Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

GÓP PHẦN TÌM HIỂU THIẾT CHẾ VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG

03:48 19/04/2017

 Trong xã hội Việt Nam truyền thống, việc tổ chức, quản lý mọi mặt của đời sống xã hội chủ yếu thông qua các thiết chế chính trị - xã hội truyền thống.

Bằng những nội dung và quy định cụ thể ( dù thành văn hoặc bất thành văn) các thiết chế Việt Nam truyền thống đã thể hiện được vai trò, vị trí không thể thiếu được của nó, đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Việt Nam trong suốt hàng nghìn năm. Các mối quan hệ trong cộng đồng dân cư và trong xã hội đều được giải quyết bằng các thiết chế truyền thống…Ngày nay trong xã hội Việt Nam hiện đại bên cạnh luật pháp của Nhà nước XHCN Việt Nam, thì các thiết chế truyền thống vẫn đang tiếp tục tồn tại và vẫn còn trực tiếp tác động đến đời sống của cộng đồng xã hội. Chính vì tính chất quan trọng của nó, mà việc tìm hiểu, nghiên cứu thiết chế Việt Nam truyền thống luôn được đặt ra như một nhu cầu bắt buộc đối với những nhà làm luật, đặc biệt là giới nghiên cứu lý luận.

 

     Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam truyền thống là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, tự cung tự cấp trong các làng xã ở nông thôn, cho nên ngay từ rất sớm trong xã hội Việt Nam đã xuất hiện và tồn tại những thiết chế xã hội truyền thống, nhằm quản lý và tổ chức mọi mặt của đời sống xã hội. Sự xuất hiện và tồn tại của các thiết chế xã hội truyền thống Việt nam, được xem là một yêu cầu tất yếu trong một xã hội chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, cá mối quan hệ của xã hội diễn ra chủ yếu trong các cộng đồng cư dân sống ở các làng xã nơi mà các thiết chế cính trị của nhà nước trung ương có ảnh hưởng không mạnh. Chính vì lẽ đó mà nội dung và hình thức của các thiết chế Việt Nam truyền thống cũng có sự biểu hiện rất phong phú.

 

     Khi tìm hiểu thiết chế Việt Nam truyền thống không thể không nghiên cứu các hương ước – khoán ước( lệ làng) trong các làng xã của người Việt. Hương ước – khoán ước dù thành văn hay không thành văn đều chiếm một vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng làng xã. Mỗi bản hương ước, khoán ước được coi là “Cương lĩnh nếp sống” của từng cộng đồng dân cư. Nó là công cụ để tự điều khiển và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong và ngoài làng, giữa làng với nước…Nói một cách rõ hơn thì hương ước, khoán ước là công cụ để quản lý xã hội, giúp cho Nhà nước nắm được làng xã (đơn vị hành chính nhỏ nhất). Nội dung chính của các hương ước, khoán ước bao gồm:

 

     - Những quy ước về hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng như ngõ xóm ( Tổ chức tập hợp người theo địa vực cư trú); dòng họ (theo quan hệ huyết thống); phe giáp, phường hội... Đây là những quy ước nhằm quản lý làng xã theo mặt bằng.

 

     - Những quy ước về các  quan hệ xã hội hay thứ bậc xã hội như: quyền người già trong làng (lão quyền); quyền của nam giới trong sinh hoạt làng xã; phụ quyền: quyền của người Cha trong gia đình…

 

     - Quy ước vê việc bảo vệ an ninh trong cộng đồng làng xã, nhằm hòa giải các mâu thuẫn, xích mích giữa các thành viên, bao gồm việc củng cố hào lũy, lập các đội tuần phiên bảo vệ lúa, màu cùng các loại tài sản công, tư, hạn chế các tệ nạn cờ bạc, rượu chè…đảm bảo trật tự an ninh chung.

 

     - Những quy ước bảo đảm đời sống tâm linh của cộng đồng, tức là những quy ước về các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng đặc biệt là việc thờ cúng Thành Hoàng làng.

 

     - Những quy ước bảo đảm nghĩa vụ sưu thuế, binh dịch với Nhà nước(thống trị). Thông qua các hương ước, quy định việc xử phạt đối với những người vi phạm, không chịu chấp hành lệ làng và phép nước, khen thưởng những người có công trạng…

 

     Trên đây là một kiểu thiết chế Việt Nam truyền thống tương đối phổ biến và đặc trưng. Trong đó nổi lên mấy đặc điểm là: Tính hiệu lực cao, vì nó liên quan chặt chẽ đến quyền lợi và nghĩa vụ của từng thành viên trong cộng đồng. Tính tự giác thực hiện của các thành viên trong cộng đồng rất cao, khác với sự áp đặt của luật pháp. Hình thức tổ chức và mối quan hệ giữa các quy ước, hương ước có sự đan xen chồng chéo.

 

     Một kiểu thiết chế Việt Nam truyền thống tiêu biểu thứ hai, đó là những thiết chế dựa trên những nguyên tắc đạo đức truyền thống. Đối với người Việt Nam nói riêng, người phương Đông nói chung, thì đạo đức được đặc biệt coi trọng. Đạo đức được xem là phẩm chất hàng đầu của con người. Đạo đức được giáo huấn ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, mọi tầng lớp người, trong mọi quan hệ, mọi thời đại…Bởi vậy, đạo đức nổi lên như một thiết chế xã hội quan trọng của người Việt Nam. Bằng đạo đức, người ta có thể biến từ một kẻ xấu thành người tốt, từ tính dữ đổi ra tính hiền, từ cái ác thành cái thiện… và dĩ nhiên, đạo đức còn có sức mạnh quản lý xã hội, các quan hệ trong cộng đồng dân cư. Đạo đức với tư cách là một thiết chế Việt Nam truyền thống có quá trình phát triển liên tục và không ngừng được bổ sung thêm những vấn đề mới do quá trình giao lưu với các nền văn hóa đặc biệt là tư tưởng đạo đức Nho giáo Trung Quốc với thết chế đạo đức, thì việc quản lý mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền có nền nếp và hiệu quả cao hơn. Không chỉ bởi tính tự giác cao của các thành viên trong cộng đồng do ý thức được hành vi của mình phải luôn phù hợp với chuẩn mực đạo đức, mà còn bởi trong thiết chế đạo đức cũng đã thể hiện tính pháp chế rất mạnh mẽ. Người dân trong xã hội Việt Nam truyền thống, do rất trọng đạo đức nên bất kỳ hành vi nào trái đạo đức, luân thường đều bị coi khinh, bởi vậy sức ép dư luận xã hội buộc con người phải tuân thủ các chuẩn mực đạo đức một cách nghiêm túc.

 

     Thiết chế Việt Nam truyền thống còn được xét từ góc độ các quan niệm tôn giáo, tín ngưỡng. Tôn giáo và tín ngưỡng đối với người Việt Nam được gắn liền trong đời sống, lao động sản xuất và mọi sinh hoạt, quan hệ…. Bởi vậy, nó cũng được coi là một thiết chế truyền thống. Tôn giáo, tín ngưỡng gắn chặt và giải quyết nhu cầu đời sống tâm linh của một bộ phận người dân Việt Nam. Giải quyết những bế tắt, bù đắp những bất hạnh, che chở những khó khăn…đều ở tín ngưỡng và tôn giáo mỗi khi con người không còn chỗ dựa về mặt tinh thần nơi trần thế. Sự linh thiêng của tôn giáo và tín ngưỡng đã trở thành một thiết chế giàng buộc con người, quản lý con người, giáo dục con người… Đây chính là một điểm tích cực của thiết chế tôn giáo và tín ngưỡng.

 

     Trên đây là một số nội dung cơ bản của thiết chế Việt Nam truền thống. Bên cạnh những biểu hiện rất tích cực của nó thì thiết chế Việt Nam truyền thống, do tính lịch sử, tính chủ quan của các chủ thể nắm thiết chế này nên không thể không bộc lộ những hạn chế mang tính cố hữu của nó. Vấn đề là cần hiểu và phát huy hơn nữa những mặt tích cực và hạn chế dần dần loại bỏ những nhược điểm của các thiết chế Việt Nam truyền thống và vận dụng những mặt tích cực vào cuộc sống hiện tại.

 

     Tóm lại: Trong quá trình tồn tại và phát triển mỗi cộng đồng dân tộc đều có cách quản lý xã hội riêng dựa trên những thiết chế chính trị - xã hội của mình. Đối với Việt Nam, việc quản lý xã hội cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bên cạnh các luật tắc của các thiết chế nhà nước thống trị thì trong xã hội vẫn tồn tại những thiết chế truyền thống, dù thành văn hay bất thành văn, song sức mạnh của nó lại rất lớn, nhiều khi còn vượt trên cả phép nước. Thiết chế truyền thống đã khẳng định được vị trí và vai trò khong thể thiếu được của nó trong các xã hội cổ truyền trước đây và ngày nay nó vẫn đang tồn tại trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại, góp phần không nhỏ trong việc quản lý xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta tiến hành xây dựng dất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phấn đấu xây dựng xã hội mọi người sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, thì việc nghiên cứu và vận dụng các thiết chế Việt Nam truyền thống vào đời sống xã hội là có một ý nghĩa quan trọng. Đó là sự kế thừa linh hoạt của chúng ta, những tinh hoa, giá trị truyền thống của dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Lệ làng - mấy nét về nội dung và bài học kinh nghiệm quản lý làng xã; Bùi Xuân Đính; nxb PL; Hà nội; 1985

2. Truyền thống Việt Nam qua tư liệu hương ước; Bùi Xuân Đính; nxbPL; Hà nội; 1985

 

Nguyễn Thị Hồng- Khoa lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

các tin khác