Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Kỷ niệm 70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến

04:05 10/05/2017

Sau khi nắm thời cơ làm cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân (ND), tình thế của cách mạng Việt Nam (CMVN) rơi vào hoàn cảnh hết sức khắc nghiệt.

 

     Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng:

 

     Cuối tháng 8/1945, 20 vạn quân Tàu Tưởng tràn qua biên giới Việt Trung để giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra, nhưng bên trong là muốn “diệt cộng, cầm Hồ”, tiêu diệt CMVN, thôn tính nước Việt Nam. Ở miền Nam, dưới sự hỗ trợ của quân Anh, Pháp đã đổ quân vào Sài Gòn từ đầu tháng 9/1945. Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh lãnh đạo phải đối đầu cùng lúc 4 kẻ thù xâm lược (Tàu Tưởng, Anh, Pháp và quân phiệt Nhật) lại vừa trải qua nạn đói khủng khiếp ở đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (do thực dân (TD) Pháp và quân phiệt Nhật gây ra) và các đảng, phái phản động dựa vào TD, đế quốc. Chính quyền non trẻ của Hồ Chí Minh rất cần thời gian hòa bình để củng cố thực lực.

 

     Từ tháng 9/1945, chúng ta phải hòa hoãn với Tàu Tưởng, dồn sức cho cuộc chống Pháp ở Nam Bộ. Để đạt được hòa hoãn với Tàu Tưởng, ta phải nhân nhượng nhiều điều, trong đó có điều quan trọng như: Đảng phải tuyên bố tự giải tán, phải cho bọn Việt Quốc, Việt Cách tham gia Chính phủ, tham gia Quốc hội (không qua bầu cử)... Nhân nhượng, hòa hoãn với Tàu Tưởng, ta phá được âm mưu chúng dùng vũ lực để lật đổ chính quyền CM, lập chính quyền của bọn tay sai. Việc cho bọn tay sai Tàu Tưởng tham gia Chính phủ, Quốc hội chúng ta phá được luận điệu tuyên truyền “Việt Minh, cộng sản độc quyền”, phá được sức ép đòi Chính phủ ta phải từ chức, cũng như ý đồ phá hoại, tiến tới giành chính quyền bằng biện pháp chính trị, quân sự, ngoại giao. Hòa với Tàu Tưởng, tranh thủ điều kiện không có chiến tranh ở Miền Bắc, Chính phủ ta lãnh đạo toàn dân nỗ lực xây dựng chế độ mới như tăng gia sản xuất, tiết kiệm, khắc phục nạn đói, mở mang văn hóa, giáo dục, bầu cử Quốc hội đầu tiên theo phổ thông đầu phiếu, xây dựng bộ máy chính quyền, giữ vững cơ quan hành chính, kinh tế, pháp luật, phát triển lực lượng vũ trang... Hòa với Tàu Tưởng, ta mới có điều kiện dồn sức cho Nam Bộ kháng chiến, nhờ vậy chúng ta đã vượt qua được khó khăn ban đầu, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của TD Pháp, phát động được phong trào đánh địch rộng khắp, phát triển lực lượng mọi mặt...

 

     Khi Pháp và Tưởng ký Hiệp ước Trùng Khánh (28/2/1946), ta chớp thời cơ để ký với Pháp Hiệp định sơ bộ (6/3/1946) đồng ý cho Pháp đưa 15.000 quân ra Miền Bắc, thay thế 20 vạn quân Tàu Tưởng, nghĩa là chúng ta hòa với kẻ thù chính để loại bớt một kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm và tranh thủ thời gian không có chiến tranh để xây dựng đất nước, chuẩn bị lực lượng đối phó với một cuộc chiến tranh lớn nếu kẻ thù cố tình gây ra. Ký được Hiệp định sơ bộ, ta đuổi được Tàu Tưởng về nước, bọn tay sai cũng chạy theo Tàu Tưởng và tan rã. Tuy nhiên chính quyền Pháp ngày càng ngả về phía hữu, tìm cách phá hoại Hiệp định sơ bộ, phá vỡ hội nghị Fontainebleau. Ngày 13/9/1946, phái đoàn ta rời Pháp về nước. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ở lại Pháp, tiếp tục vận động cho một giải pháp hòa bình, dù là tạm thời và mỏng manh. Ngày 14/9, tại nhà riêng Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Moutet một bản Tạm ước.

 

     Chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới:

 

     Khi ký Tạm ước Moutet, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đánh giá khả năng hòa bình hầu như không còn. ĐQ Pháp tuy ký Tạm ước, nhưng vẫn ráo riết tấn công về quân sự hòng bắt ta nhượng bộ nhiều hơn. Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, quân Pháp liên tiếp vi phạm các điều khoản đã ký, tiến công quân ta và khủng bố ND rất dã man. Ngày 20/11, Pháp gây hấn, tấn công ra Hải Phòng, Lạng Sơn; 17/12: Pháp nổ súng gây hấn ở Hà Nội, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh; 18/12: Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Đông Dương là Morlière ra tối hậu thư đòi chiếm trụ sở Bộ Tài chính và Bộ Giao thông công chính, tước vũ khí tự vệ, chiếm Sở Công An Hà Nội và đe dọa “đến sáng ngày 20/12, những điều đó không được chấp nhận thì quân Pháp chuyển sang hành động”. Khả năng hòa hoãn đã chấm dứt.

 

     Ngày 6/12, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho Quốc hội Pháp tỏ rõ thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc thực hiện tạm ước. Cùng ngày, Chính phủ ta cử người gặp Sainteny và sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh hội kiến với y đi đến thỏa thuận 3 điều: (1) Giải quyết ổn thỏa những cuộc xung đột đang tiếp tục xảy ra ở Hải Phòng, Lạng Sơn; (2) Thi hành nhanh chóng bản Tạm ước; (3) Tránh tất cả những vụ xung đột có thể tạo ra bầu không khí gay go. Ngày 15/12 Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp cho Chính phủ mới ở Pháp là Léon Blum, nhắc lại lập trường của Việt Nam. Những cố gắng của chúng ta không được Pháp đáp lại. Trái lại Pháp càng lấn tới.

 

     Mặt khác, từ khi đi Pháp về, từ 28/10 đến 9/11, ta đã tổ chức kỳ họp thứ 2 của Quốc hội đầu tiên. Tại kỳ họp này, chúng ta đã củng cố Chính phủ kháng chiến, Ban Thường trực Quốc hội kháng chiến, đặc biệt là thông qua được bản Hiến pháp đầu tiên. Tiếp đó, ta đã bí mật chuẩn bị căn cứ kháng chiến ở Việt Bắc (di chuyển cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết, xây dựng căn cứ chiến đấu, nơi làm việc, hậu cần, xưởng quân giới...).

 

     Toàn quốc kháng chiến:

 

     Ngày 18/12, Ban Thường vụ TƯ họp mở rộng ở Vạn Phúc (TX Hà Đông) quyết định phát động toàn quốc kháng chiến vào đêm 19/12. Sáng 19/12, Ban Thường vụ TƯ Đảng gửi điện cho các mặt trận, các chiến khu: “Giặc Pháp đã hạ tối hậu thư đòi tước vũ khí của quân đội, tự vệ và công an ta. Chính phủ đã bác bức tối hậu thư ấy. Như vậy, chỉ trong vòng 12 giờ là cùng, chắc chắn giặc Pháp sẽ nổ súng, Chỉ thị của TƯ: “Tất cả hãy sẵn sàng”.

 

     20g30, theo lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, công nhân nhà máy Điện Hà Nội cho nổ mìn phá máy phát điện, cả thành phố mất điện. Pháo đài Láng phát hỏa báo hiệu, các lực lượng vũ trang đồng loạt tiến công vào các vị trí địch trong thành phố. Hà Nội mở màn cuộc Toàn quốc kháng chiến.

 

     Ngày 20/12, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Toàn văn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn, chỉ khoảng 200 từ, nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên vô cùng mạnh mẽ. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí sắt đá, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

 

Đặng Hoài Dũng

Theo Thông tin công tác tư tưởng số 12/2016 - Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy An Giang

Responsive image
 

 

các tin khác