Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 50 NĂM CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN (1968 – 2018)

02:20 01/02/2018

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 là một chủ trương chiến lược đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, có ý nghĩa lịch sử to lớn, mở ra cục diện mới  trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

I. TÌNH THẾ MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC VÀ CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG TA

1. Tình thế mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

- Sau 10 năm (1954 – 1964), Mỹ thế chân Pháp nhảy vào miền Nam Việt Nam và sau bốn năm (1961 – 1964) tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, mặc dù đã bỏ ra nhiều tiền của và công sức, thi hành nhiều thủ đoạn và biện pháp, nhưng phía Mỹ vẫn không thể dập tắt được phong trào cách mạng miền Nam. Từ năm 1964 đến đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào, chiến sĩ ở miền Nam phát triển nhanh chóng, thu được những thắng lợi ngày càng to lớn, khiến cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ bị thất bại nghiêm trọng. Trước tình hình ấy, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam Việt Nam; đồng thời mở rộng hoạt động không quân và hải quân ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam để gây áp lực hòng làm giảm sự chi viện về sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

- Trên miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ từng bước được mở rộng về quy mô, gia tăng về cường độ và gắn bó chặt chẽ với nhịp độ chiến tranh trên bộ ở miền Nam.

- Đối với hai nước láng giềng của Việt Nam, Mỹ đẩy mạnh “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào; sử dụng sức ép quân sự và ngoại giao hòng buộc chính phủ Vương quốc Campuchia từ bỏ thái độ trung lập.

- Trên trường quốc tế, Mỹ triệt để lợi dụng mâu thuẫn của phe XHCN và sự bất đồng trong phong trào Cộng sản quốc tế để cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Ở trong nước Mỹ, chính quyền Mỹ thi hành các biện pháp nhằm bưng bít tin tức, che giấu các hoạt động chiến tranh của Mỹ trên chiến trường.

- Từ thực tiễn chống Mỹ, cứu nước trên khắp hai miền Nam, Bắc; trên cơ sở phân tích toàn bộ tình hình trong nước và thế giới có liên quan, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khoá III (tháng 12 năm 1965) hạ quyết tâm chiến lược “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”; xác định phương châm chiến lược chung “Trên cơ sở đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, cần tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam”.

- Bằng sức mạnh của chính nghĩa, quân và dân miền Nam đã làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966 và 1966 – 1967 của Mỹ – ngụy. Hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định” bị bẻ gãy. Mục tiêu mà Mỹ đề ra không thực hiện được mà còn chịu tổn thất nặng cả về sinh lực và phương tiện chiến tranh, làm cho thế trận của địch nao núng, tinh thần quân địch sút kém, hàng ngũ địch thêm mâu thuẫn. Trong lúc đó ta vẫn giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường miền Nam, vùng giải phóng được củng cố.

 Chiến công của quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc, cùng với khí thế phong trào đấu tranh của quần chúng dâng cao đã làm xuất hiện tình thế mới trên chiến trường có lợi cho ta.

2. Chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Tháng 5 và tháng 6-1967, Bộ Chính trị họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá tình hình mọi mặt và xem xét dự thảo kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1967 - 1968, đưa ra chủ trương: trên cơ sở phương châm đánh lâu dài, đẩy mạnh nỗ lực chủ quan đến mức cao nhất để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn.

- Tháng 10-1967, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương họp mở rộng và quyết định chuyển hướng tiến công chiến lược vào các đô thị trên toàn miền Nam.

- Tháng 12-1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân và dân ta, chủ trương chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới.

- Tháng 1-1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khoá III) sau khi phân tích tình hình đã nhận định: Địch thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến thuật, do đó, ta phải tranh thủ thời cơ “chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi quyết định”, tạo ra bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, nhiệm vụ cấp bách của ta trong thời kỳ mới là động viên, tạo sự nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định.

II. TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

1. Diễn biến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

- Sau thất bại nặng nề trong chiến dịch mùa khô 1966 – 1967, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn liều lĩnh quyết định đưa thêm 10 vạn quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Đầu năm 1968, số quân chiến đấu của Mỹ ở miền Nam đã vượt quá nửa triệu tên, chưa kể sự yểm trợ của trên 20 vạn quân Mỹ có mặt ở Thái Lan, Phi-líp-pin, Nhật Bản, Guam, Hạm đội 7, cùng với gần 60 vạn quân ngụy Sài Gòn, gần 7 vạn quân đồng minh của Mỹ.

- Về phía ta, để thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, các chiến trường ở miền Nam gấp rút bắt tay chuẩn bị cho cuộc Tổng công kích - tổng khởi nghĩa; chuẩn bị chiến trường, lực lượng, xây dựng phương án tác chiến và phương án phát động quần chúng nổi dậy, bảo đảm hậu cần tiếp tế, thông tin liên lạc; chuẩn bị cơ sở giấu ém lực lượng và bàn đạp xuất phát tiến công ở vùng ven và trong các đô thị trên toàn miền Nam.

- Trước sức tiến công và công tác nghi binh, tất cả các lực lượng chủ lực của địch từ chuẩn bị phản công để giành quyền chủ động chiến trường phải quay về phòng ngự bị động chống đỡ. Lực lượng địch bị căng kéo, kế hoạch quân sự và thế bố trí lực lượng trên chiến trường bị đảo lộn, tạo ra sơ hở trong thế phòng ngự bị động của địch để ta triệt để khoét sâu.

- Để tiếp tục nghi binh, căng kéo lực lượng của địch, đẩy chúng tiếp tục bị động về chiến lược, ta và Lào mở chiến dịch Nậm Bạc ở Thượng Lào, chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân, tiêu hao lực lượng và sinh lực địch tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy.

- Các hoạt động nghi binh, đặc biệt chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh đã làm cho Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam và giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn bị lạc hướng. Trong khi họ dồn toàn trí và lực lượng ra hướng Đường 9 - Khe Sanh và nhận định Khe Sanh là chiến trường chính, thì cuộc Tổng tiến công và nổi dậy bất ngờ diễn ra ở một loạt đô thị trên toàn miền Nam.

+ Đúng 0 giờ ngày 29-1-1968 (giao thừa theo lịch miền Bắc) quân ta tiến công địch tại sân bay Nha Trang (Khánh Hòa).

+ Từ 0 giờ 30 phút đến 1 giờ 15 phút ngày 30-1-1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân theo lịch miền Nam) ta đồng loạt tiến công vào thị trấn Tân Cảnh, thị xã Kon Tum (Kon Tum), thị xã Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk), thị xã Plây Cu (Gia Lai), thành phố Qui Nhơn (Bình Định), thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An... Như vậy, cả dải đất miền Trung đã nổ súng tiến công.

+ Đêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (tức đêm giao thừa tết Mậu Thân theo lịch miền Nam, ngày mùng một Tết theo lịch miền Bắc), cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tiếp tục diễn ra ở khắp các tỉnh và thành phố, thị xã, thị trấn trên toàn miền Nam. Bộ binh, đặc công, pháo binh, biệt động ta đánh mạnh, đánh trúng các mục tiêu trọng yếu của địch ở Sài Gòn - Gia định, Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Tây Ninh, Bến Tre, Kiến Tường, Định Tường, Gò Công, Biên Hoà, Mỹ Tho, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Vĩnh Long, Cà Mau, Sóc Trăng, Rạch Giá, Kiên Giang, Tuyên Đức...

+ Tại Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm lớn nhất của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bởi vì đây là trung tâm đầu não chỉ đạo toàn bộ bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ - ngụy tại miền Nam Việt Nam.

Để bảo vệ Sài Gòn - Gia Định, Mỹ - ngụy đã tổ chức một hệ thống phòng thủ vững chắc nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều loại lực lượng tham gia.

Ngay từ phút đầu nổ súng, biệt động ta đã đồng loạt đánh vào các mục tiêu quy định: Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Bộ tư lệnh hải quân, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh, toà Đại sứ Mỹ. Trận đánh tòa Đại sứ Mỹ hơn 6 tiếng đồng hồ với 17 chiến sĩ biệt động của ta đương đầu với lực lượng quân cảnh, lính dù của Mỹ đã gây một tiếng vang lớn làm chấn động nước Mỹ.

Đồng thời với lực lượng biệt động, các tiểu đoàn mũi nhọn trang bị gọn nhẹ, từ các bàn đạp vùng ven, nhanh chóng tiến vào nội đô trên các hướng. Xung quanh Sài Gòn - Gia Định, các căn cứ quân sự, trụ sở quân đội và chính quyền Sài Gòn ở Biên Hòa, Bình Dương, Hậu Nghĩa, Long An... cũng bị tiến công.

+ Tại mặt trận Trị Thiên, lực lượng ta tiến công Nhà đèn, Ty Cảnh sát, Tòa tỉnh trưởng, trụ sở cơ quan bình định và trụ sở Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV), Tri Bưu, Thành Cổ, La Vang, điểm cao 49. Nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng, Bến Đá rầm rộ nổi dậy cùng bộ đội địa phương bao vây địch ở trong các quận lỵ cầu Nhùng, Bến Đá làm chủ đoạn quốc lộ 1 từ Diên Sanh đến Mỹ Chánh, đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt quốc lộ 1 đoạn từ Đà Nẵng ra Huế, phá sập Cầu Hai, cầu Nước Ngọt, giải phóng khu vực xung yếu ven biển và phía nam Cầu Hai, khu vực Truồi.

+ Tại mặt trận Huế, lúc 22 giờ 33 phút, ngày 31-1-1968, tiếng súng tấn công bắt đầu vang lên khắp thành phố; sau 4 ngày chiến đấu liên tục quân và dân ta đánh chiếm hầu hết các mục tiêu quan trọng như: Dinh tỉnh trưởng, đồn cảnh sát, đài Phát thanh, khách sạn Thuận Hóa, Hương Giang (hang ổ của Mỹ), sân bay Phú Bài...

Tích cực hỗ trợ cho lực lượng vũ trang, đông đảo nhân dân Huế đã nổi dậy, dẫn đường cho bộ đội, đào hầm, dựng chiến lũy, tiếp tế, chăm sóc thương binh... và thành lập chính quyền cách mạng ở nhiều khu vực. Hàng ngàn thanh niên đã gia nhập các đội du kích, tự vệ, các đội công tác. Sau 25 ngày đêm chiến đấu và làm chủ thành phố Huế (từ 31/1/1968 đến 24/2/1968), quân và dân ta đã diệt, bắt sống, bức hàng và làm tan rã hàng chục ngàn tên địch, bắn rơi và phá hỏng nhiều máy bay, tàu chiến, xe quân sự, giải phóng 210.000 dân, 20 xã, 271 thôn, thành lập chính quyền ở 200 thôn.

+ Bị tiến công đồng loạt, bất ngờ, địch lúc đầu choáng váng. Chúng dồn về mặt trận đô thị, bỏ ngỏ vùng nông thôn. Nắm thời cơ, lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy, giải phóng nhiều vùng rộng lớn.

+ Tiếp theo đợt I, chúng ta còn mở đợt tiến công vào mùa hè (đợt II) từ tháng 5-1968 đánh vào 30 thành phố, thị xã, quận lỵ, chi khu; 27 bộ tư lệnh từ quân đoàn đến trung đoàn; 40 sân bay; nhiều kho tàng và các trục đường giao thông thủy bộ của địch.

+ Phát huy khí thế tấn công, từ ngày 17-8-1968, ta mở đợt tấn công lần thứ III. Đợt này ta không đánh mục tiêu chiến lược trọng điểm như các đợt trước mà chủ yếu tấn công bằng pháo và đánh vào các căn cứ quân sự, chống phản kích. Quân ta đã đánh vào 27 thành phố, thị xã, 100 thị trấn, quận lỵ, chi khu, 107 sân bay, 30 kho hậu cần lớn, 6 bộ tư lệnh sư đoàn Mỹ - ngụy.

Hai đợt tiến công lần thứ II và III bồi tiếp đòn nặng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, gây cho chúng những tổn thất lớn về sinh lực và phương tiện chiến tranh.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong tổng số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự địch bị tiến công đồng loạt. Chúng ta tiêu diệt và làm tan rã 15 vạn quân địch trong đó có 4 vạn quân Mỹ, 600 ấp chiến lược, giải phóng thêm100 xã với hơn 1,6 triệu dân.

2. Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại An Giang

Mùa nước năm 1967, Tỉnh ủy nhận được chỉ đạo của Khu chuẩn bị mọi mặt để chuyển sang tổng công kích vào ngay hậu phương địch, kết hợp quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Quân dân An Giang tích cực chuẩn bị lực lượng cho chiến dịch với tinh thần quyết tâm, khẩn trương, bí mật.

Tỉnh rút Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 512, 01 trung đội an ninh võ trang tỉnh làm nòng cốt, bổ sung bộ đội địa phương quân các huyện thành lập Tiểu đoàn 2, đồng chí Hai Quang làm Tiểu đoàn Trưởng, Tám Chương làm Chính trị viên.

Tỉnh chủ trương tăng cường lực lượng cho các huyện, thị trọng điểm:

- Châu Đốc: Đồng chí Phạm Công Hưng (Tám Hưng) – Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy được điều động về làm Bí thư Thị xã ủy Châu Đốc.

- Long Xuyên: Đồng chí Nguyễn Văn Nguyên (Hai Nguyên) – Tham mưu phó tỉnh đội được điều về tăng cường cho thị xã Long Xuyên, làm Thị đội trưởng và chỉ huy đơn vị hỗn hợp gồm địa phương quân Châu Thành – Huệ Đức, biệt động Long Xuyên và 1 đại đội đặc công an ninh vũ trang tỉnh.

- Tân Châu – An Phú: Đồng chí Huỳnh Văn Khoe (Út Dũng) – Tiểu đoàn phó 512 (Tiểu đoàn 1) chỉ huy một bộ phận bộ đội tỉnh được tăng cường cho Tân Châu – An Phú.

- Tăng cường một tiểu đội an ninh vũ trang cho Tri Tôn...

Việc nghiên cứu nắm địch tình hai thị xã Châu Đốc, Long Xuyên được tiến hành khá chu đáo, toàn diện. Các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Tân Châu huy động trên 2.000 dân công phân thành từng đơn vị phối hợp với bộ đội. Đường vận chuyển vũ khí, quân dụng tổ chức thông suốt từ Khu về tỉnh, trang bị cho bộ đội các loại vũ khí mạnh như AK, B40, B41, DKZ75, cối 61, cối 82 ly... Đồng bào Bảy Núi và Việt kiều biên giới Tân Châu - An Phú cung cấp nhiều người, là hậu phương của cách mạng An Giang. Phong trào tòng quân sôi nổi, ngay cả các sãi trẻ ở chùa Khmer cũng tình nguyện vào du kích, bộ đội huyện, đi dân công...

Năm 1967, phương án tác chiến của tỉnh cơ bản xây dựng xong:

- Thị xã Châu Đốc được chọn làm mục tiêu chính, tập trung Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 và lực lượng vũ trang Châu Phú, Châu Đốc đánh chiếm cơ quan đầu não của địch kết hợp quần chúng nổi dậy trừ gian, phá tề, làm chủ.

- Châu Thành - Long Xuyên được làm mục tiêu phụ. Hướng Long Xuyên, du kích mật đánh một số mục tiêu trong nội ô, còn tiểu đoàn hỗn hợp sẽ cắt đứt lộ Long Xuyên - Châu Đốc, tấn công chi khu Châu Thành và đợi dứt điểm Châu Đốc sẽ hội quân đánh vào thị xã Long Xuyên.

- Thị trấn Tri Tôn, Tân Châu là diện căn kéo địch. Ở Tri Tôn, lực lượng vũ trang tấn công vào thị trấn, cắt đường Lộ Tẻ, cùng lúc phát động nhân dân các xã núi Tô bức rút đồn bót, kéo về quận lỵ.

 Bộ chỉ huy chiến dịch tỉnh được thành lập, gồm có:

- Đồng chí Bùi Văn Mỳ – UVTV Tỉnh ủy, Tỉnh đội trưởng làm Chỉ huy trưởng.

- Đồng chí Võ Thái Bảo – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chính trị viên Tỉnh đội làm Chính ủy Mặt trận.

- Đồng chí Vũ Hồng Đức – UVTV Tỉnh ủy làm Phó Chính ủy.

- Đồng chí Võ Khắc Sương – Tỉnh đội phó làm Tham mưu trưởng.

- Đồng chí Lại Hữu Khai – Tỉnh đội phó làm Tham mưu phó.

- Đồng chí Võ Văn Tôn (Hiếu Liêm) làm Chủ nhiệm hậu cần.

Ban Chỉ huy Mặt trận Châu Đốc gồm các đồng chí: Bùi Văn Mỳ, Võ Thái Bảo, Vũ Hồng Đức, Võ Khắc Sương, Lại Hữu Khai, Phạm Công Hưng – Bí thư Thị xã ủy Châu Đốc, Trần Văn Võ – Ủy viên Thường vụ Thị xã ủy Châu Đốc. Ban Chỉ huy Mặt trận Châu thành – Long Xuyên gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Hơn – Phó Chính trị viên Tỉnh đội, Lý Chí Nam – Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Cán sự Thị xã Long xuyên, Nguyễn Ngọc Tạc – Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Hồ Chí Sơn – Tỉnh ủy viên, Bí thư Châu Thành – Huệ Đức, Nguyễn Văn Nguyên – Tham mưu phó tỉnh đội.

Đến giữa tháng 1-1968, công việc chuyển quân về vị trí đứng chân, chọn mục tiêu, chuẩn bị cơ sở hậu cần, nơi ém quân, cứu thương, hậu cần, hầm bí mật… trong nội ô, đã hoàn thành. Ngày 28-1-1968, Tỉnh ủy nhận được điện của Khu 8 cho biết ngày, giờ tấn công đồng loạt là vào giữa đêm 30-1-1968 (tức tối mùng 1 Tết âm lịch năm Mậu Thân). Cán bộ nội thành và biệt động thị xã Châu Đốc nhận lệnh vào trước nắm lại cơ sở cách mạng và địch tình ở những mục tiêu đã định.

Đến lúc này, dựa vào lực lượng quân sự hùng hậu (tỉnh Châu Đốc khoảng 20.000 quân các loại, tỉnh An Giang gần 10.000 quân) và mạng lưới công an, chỉ điểm rộng khắp, hệ thống cứ điểm quân sự dày đặc, địch chủ quan đánh giá là vào tháng 2-1968 ta mới hoàn tất giai đoạn chuẩn bị cho “chiến dịch Xuân Đồng khởi”.

Tại tỉnh lỵ Châu Đốc, địch có trên 2.000 quân, nhiều xe bọc thép, giang thuyền và các cụm hỏa lực ngoại vi như Núi Sam, An Phú, Đồng Ky, sân bay Châu Đốc... Đánh giá thấp lực lượng cách mạng An Giang, ỷ lại vào hệ thống bố phòng chặt chẽ nên dù biết tin Tây Nguyên bị đánh vào tối ngày 29-1-1968 (đêm 30 Tết), một số tên chỉ huy cấp cao của Châu Đốc vẫn nghỉ ngơi, vui chơi ngày mùng một Tết, trong lúc quân giải phóng An Giang đã vào vị trí xuất phát.

Chiều 30 Tết, lễ xuất quân được tổ chức trọng thể tại núi Dài lớn. Khí thế tiến công và quyết tâm giải phóng quê hương sôi sục trong lòng bao cán bộ, chiến sĩ, đồng bào. Trong đêm 30 Tết, Ban chỉ huy chiến dịch cùng cơ ngành tỉnh, lực lượng vũ trang, dân công hành quân về Thới Sơn (Tịnh Biên) trong tiếng pháo đón giao thừa rộn rã. Trinh sát tỉnh phối hợp với địa phương quân huyện, du kích Thới Sơn bung ra khống chế đồn bót địch chung quanh. Tối mùng 1 Tết, toàn bộ lực lượng hơn 2.000 người hành quân thần tốc đến điểm tập kết “chòm gáo cò kêu” cách thị xã Châu Đốc khoảng 2 cây số.

Ở căn cứ B2, khi biết thời điểm tấn công, quyết tâm giải phóng Châu Đốc, ai ai cũng muốn “xuống đường” trong khí thế “chồm lên xốc tới” quyết chiến thắng. Cánh quân tiền phương vượt kinh Vĩnh Tế đến hội quân với cánh chính ở khu vực qui định. Cuộc hành quân của hai cánh quân giữ được bí mật hoàn toàn dù ngọn đèn pha cực mạnh trên đỉnh núi Sam không ngừng quét sáng.

Hai giờ sáng ngày 31-1-1968 (mùng 2 Tết), quân giải phóng nổ súng tấn công vào thị xã Châu Đốc. Đồng chí Ba Bên bắn quả DKZ 75 thủng lô cốt địch trên đường Thủ Khoa Huân, dập tắt hỏa lực nơi này. Quân ta tràn lên tấn công các hướng từ đồn Quân cảnh đến trại Thượng Đăng Lễ (tiểu khu Châu Đốc). Chỉ qua vài giờ chiến đấu, ta gần như làm chủ cả tỉnh lỵ. Đến sáng ngày 31-1-1968, địch chỉ còn giữ được dinh Tỉnh trưởng, thành PC và nhà Phủ Vị (nơi đóng quân của đại đội bảo an 686) chờ viện binh tiếp cứu.

Bị đánh bất ngờ, Tỉnh trưởng không có mặt ở Sở chỉ huy phải dùng bộ đàm động viên sĩ quan, binh lính cấp dưới cố thủ. Tiểu khu phó từ nhà chạy vào dinh Tỉnh trưởng chỉ huy binh lính.

Ngày mùng 2 Tết, quân giải phóng tiếp tục củng cố các vị trí chiếm được trong đêm, đánh tan 3 đợt phản kích của địch ở khu vực Ty cảnh sát. Với quyết tâm giải phóng Châu Đốc, Ban chỉ huy mặt trận từ chùa Pháp Võ chuyển vào nhà một cơ sở cách mạng để trực tiếp chỉ đạo các cánh quân. Lực lượng ta chiếm được trại Thượng Đăng Lễ nhưng không thể đánh qua dinh Tỉnh trưởng vì sát tường là trại giam sợ thiệt hại anh chị em tù chính trị... Các mũi phối hợp quanh Châu Đốc không triển khai được như kế hoạch. Cánh Châu Phong không vượt qua được bến phà Châu Giang. Cánh Vĩnh Hậu không qua được Đa Phước để cắt đường tiếp viện của địch từ An Phú kéo về.

Cánh Tri Tôn đánh chiếm quận lỵ nhưng các nơi phối hợp bị địch chặn lại không thể hoàn thành theo kế hoạch đề ra.

Mặt trận Châu Thành - Long Xuyên bị địch chặn lại ở Ngã ba Lộ tẻ, bịt kín các ngã vào nội ô...

Chiều 31-1-1968, chủ lực ngụy từ Cần Thơ lên Châu Đốc tiếp viện, bị quân giải phóng đánh, địch chựng lại, kêu máy bay bắn cháy nhà dân cặp đường núi Sam, đường Cử Trị, Bảo Hộ Thoại, Thủ Khoa Huân dài xuống kinh Lò Heo - khu vực đóng quân của dân công, hậu cần. Một tiểu đoàn địch từ căn cứ núi Đất (Tịnh Biên) kéo ra tiếp viện. Bên trong, địch ở nhà Phủ Vị đánh nống ra khu vực khách sạn An Biên, nơi biệt động thị xã Châu Đốc chiếm giữ. Địch ở thành PC cũng bung ra bến đò Cồn Tiên để đón tiểu đoàn lực lượng đặc biệt từ An Phú qua tiếp viện. Pháo địch ở Núi Sam, sân bay Châu Đốc, An Phú bắn dồn dập vào trận địa của ta... Lực lượng ta đánh lùi các mũi phản kích của địch, tiếp tục giữ thế bao vây. Một xe đốt- cát (dodge) chở 4 tên (có 1 Mỹ) từ hướng núi Sam chạy ra, cách cầu số 2 khoảng 100 mét, bị biệt động Châu Đốc dùng B40 bắn diệt.

Chiều tối, Ban chỉ huy mặt trận nhận định: Lực lượng ta thấm mệt vì không có các đơn vị dự trữ. Địch đang triển khai quân khắp ba mặt: từ núi Sam đánh ra, từ sân bay đánh lên và từ Cồn Tiên đánh qua... Để bảo toàn lực lượng, Ban chỉ huy quyết định chia làm 2 cánh rút ra: cánh chủ yếu gồm Tiểu đoàn 1, Đại đội 385 và dân công trở về căn cứ Thới Sơn, Bảy Núi; cánh thứ yếu gồm Tiểu đoàn 2, trinh sát, đặc công, thị đội Châu Đốc và cơ ngành tỉnh rút về căn cứ B2. Trong đêm 31-1-1968, lực lượng ta rút về căn cứ an toàn. Riêng một bộ phận an ninh tỉnh không nhận lệnh kịp nên mãi sáng hôm sau còn kẹt lại nội ô, đã bị địch vây bắt.

Tổng kết mặt trận Châu Đốc và Tri Tôn, quân giải phóng đã phá hủy, đánh chiếm 21 địa điểm, căn cứ địch, loại hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, xóa sổ cả đại đội 810 bảo an Châu Đốc. Theo báo cáo của địch thì có 70 chết, 116 bị thương, mất 99 súng, cháy 10 xe.

Sau đợt I Xuân Mậu Thân, theo chỉ đạo của Khu, toàn bộ lực lượng vũ trang của tỉnh An Giang chuẩn bị các mặt, lấy danh nghĩa Sư thúc Huỳnh Văn Trí tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền trong quần chúng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.

Lấy từ lực lượng nòng cốt là địa phương quân Tân Châu – An Phú, trong đó có 1 trung đội “Hòa Hảo yêu nước”, tỉnh lập Tiểu đoàn 3 (gọi là “Bộ đội ông Mười Trí), quân số khoảng 300 người do đồng chí Lê Văn Lạc làm Tiểu đoàn trưởng, cùng các đơn vị bạn thọc sâu vào “vùng O” (Hòa Hảo – Tân Châu nay thuộc huyện Phú Tân). Tối ngày 23-3-1968, quân ta từ căn cứ B1 kéo xuống bao vây, tiêu diệt đồn Tân Phú; đánh tiểu đoàn địa phương của tên Huỳnh Trung Hiếu ở Hưng Nhơn; đánh bọn chi khu Châu Phú kéo qua tiếp viện tại Hiệp Xương diệt hàng chục tên. Địch cho máy bay lên bắn cháy 30 nhà dân. Đến tối, lực lượng ta rút về Long Sơn. Sáng ngày 25-3-1968, địch tập trung phản kích vào Phú Lâm có phi cơ phản lực, trực thăng, tàu chiến, thiết giáp, pháo binh yểm trợ. Lực lượng ta đẩy lui các đợt tấn công của địch, bắn cháy 1 xe M.113, 1 tàu chiến. Tình hình chiến trường không cho phép kéo dài chiến dịch, tối ngày 25-3-1968 ta rút quân về căn cứ. Đây là lần đầu tiên kể từ thời kháng chiến chống Pháp, bộ đội cách mạng mới vào được vùng này.

Ngày 5-5-1968, quân dân An Giang mở đợt II cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với mục tiêu chính là vùng ven Châu Đốc nhằm kềm chân địch cho 1 đơn vị chủ lực của Miền từ Hồng Ngự qua Long Sơn, Phú Lâm. Nhưng lực lượng chủ lực bị địch chặn lại ở Long Thuận, 3 ngày sau phải rút quân. Bên phía Khánh Hòa, Mỹ Đức, bộ đội tỉnh quần nhau suốt năm ngày đêm với ba tiểu đoàn chủ lực ngụy, có hỏa lực hùng hậu yểm trợ. Địch bị thiệt hại nặng nhưng thương vong của ta cũng lớn (gần 70 cán bộ, chiến sĩ), đạn dược sắp hết nên Ban chỉ huy cho rút quân về căn cứ B2.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân An Giang đã giáng một đòn bất ngờ vào quân ngụy An Giang, Châu Đốc với phạm vi của chiến dịch trải rộng trên 1 thị xã, 5 thị trấn, 50 xã khiến địch phải bị động đối phó. Đây là lần tấn công thứ ba của quân giải phóng vào Châu Đốc với một lực lượng lớn chưa từng có, địch bị động để Châu Đốc trở thành một trong hai nơi bị thiệt hại nặng nhất ở đồng bằng sông Cửu Long. Về phía cách mạng An Giang, đợt I đánh vào Châu Đốc giành được thắng lợi lớn mà thương vong rất thấp. Nhưng khi tiến hành đợt II không còn yếu tố bất ngờ, mục tiêu không quan trọng mà thương vong rất lớn. Đó cũng là một bài học quý báu của Đảng bộ về chỉ đạo chiến lược.

III. Ý NGHĨA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 là một sự kiện có ý nghĩa chiến lược, đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, tạo bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đi tới thắng lợi.

- Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra khi nỗ lực xâm lược của Mỹ ở Việt Nam lên tới đỉnh cao, khi lực lượng so sánh giữa ta và địch trên chiến trường nghiêng mạnh về phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Bằng cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt, táo bạo, dũng mãnh, nhằm vào đô thị trên toàn miền Nam, quân và dân ta đã đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải đơn phương “xuống thang chiến tranh”, khởi đầu cho một quá trình đi xuống về mặt chiến lược. Quá trình đó là không thể đảo ngược cho dù phải 5 năm sau Mỹ mới rút hết quân ra khỏi miền Nam và phải 7 năm sau chế độ Sài Gòn mới sụp đổ, nhưng về mặt chiến lược, Mỹ đã thua cuộc từ mùa xuân 1968.

Sau một tháng tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra từ chức. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giôn - xơn phải tuyên bố ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai... Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ - chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu “Phản ứng linh hoạt” của Mỹ trong thập niên 60 của thế kỷ XX. Đến tháng 5-1968, Mỹ phải bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 dù chưa đạt được yêu cầu của khả năng thứ nhất như dự kiến; và phải hy sinh to lớn, nhưng quân và dân ta đã xoay chuyển được cục diện chiến tranh, tiếp tục đưa sự nghiệp kháng chiến tiến lên theo phương hướng chiến lược mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong Thư chúc Tết năm 1969 “Vì độc lập, vì tự do; đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

- Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ta tiêu diệt, tiêu hao một lực lượng quan trọng quân địch, phá huỷ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh,  phá vỡ hệ thống phòng thủ đô thị của chúng trên quy mô toàn miền Nam, tạo một bước phát triển đột biến trong cục diện chiến tranh, thể hiện tập trung ở một số mặt sau đây:

Về mặt thế chiến lược: Thế chiến lược của địch đã bị đảo lộn và càng lún sâu vào phòng ngự bị động. Kế hoạch chiến lược “tìm diệt và bình định” năm 1968 chưa kịp triển khai đã phải vứt bỏ; địch đã phải bị động chuyển một cách đột ngột sang chiến lược “quét và giữ”. Chiến lược này, ngay khi mới đưa ra đã bị đánh bại bước đầu, thế chiến lược của ta càng vững mạnh. Ta đã đưa chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng lên một bước mới tạo ra thế tiến công, bao vây địch trên tất cả các chiến trường, nhất là trên mặt trận thành thị.

Về mặt lực lượng: Sự so sánh lực lượng giữa ta và địch đã biến đổi một bước quan trọng có lợi cho ta. Lực lượng quân sự Mỹ - ngụy kể cả sinh lực và phương tiện chiến tranh đã bị tổn thất nặng nề, tinh thần chiến đấu của địch càng sa sút. Đặc biệt, hiệu lực chiến lược của quân Mỹ và quân ngụy trong thế chiến lược phòng ngự bị động càng giảm sút rõ rệt. Những mâu thuẫn, khó khăn và bế tắc của chúng về số quân, chất lượng, cách đánh, càng gay gắt và trầm trọng.

Về mặt chính trị: Giới cầm quyền Mỹ đã mất tin tưởng ở chiến lược quân sự của chúng. Mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ, giữa Mỹ và ngụy, trong nội bộ bọn tay sai Mỹ ở miền Nam trở nên rất gay gắt, hàng ngũ của chúng phân hóa sâu sắc và rối loạn hơn bao giờ hết. Phong trào nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam càng lên cao. Ngày 31-3-1968, Giôn-xơn đã phải thú nhận thất bại, thực hiện ném bom hạn chế miền Bắc và rút lui việc ra ứng cử Tổng thống, đồng thời chúng phải cách chức tướng Oétmolen.

- Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 là một biểu hiện sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta: Nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị; là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”, lấy trí tuệ của con người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của Mỹ.

50 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa và bài học của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn vẹn nguyên giá trị: Đó là khát vọng về độc lập, tự do và hòa bình cho Tổ quốc, là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả.

Responsive image
 

 

các tin khác