Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

"Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân"

04:10 19/04/2017

Một trong những thuộc tính của cách mạng là đổi mới. Không đảm bảo thuộc tính ấy, một sự nghiệp không thể được khởi xướng thật sự xứng đáng với cái tên "cách mạng".

 Không duy trì thuộc tính ấy một cách thường xuyên, liên tục trong suốt diễn trình, sự nghiệp cách mạng dần đi vào ngõ cụt, nghiêm trọng hơn là dẫn đến cái chết từ nội tại. Cách mạng phải đổi mới, đổi mới để cách mạng. Điều này được Hồ Chí Minh khẳng định từ rất sớm khi quan niệm "cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt" . Tiêu chí để có cái mới, cái tốt thay thế cho cái cũ, cái xấu là mục tiêu vì lợi ích và sự phát triển của đại đa số người trong xã hội, tức là nhân dân. Chỉ dẫn đó trở thành phương châm có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

    

     Đổi mới là yêu cầu sống còn của cách mạng. Tuy nhiên, lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy không phải lúc nào đổi mới cũng được thực hiện đúng với tầm vóc cần có. Thực tiễn cho thấy, mỗi khi chúng ta chậm đổi mới, thậm chí là không đổi mới, thì giai đoạn cách mạng đó luôn gặp khó khăn, tổn thất, rơi vào thoái trào, nghiêm trọng hơn là đi đến khủng hoảng. "Cái mới", "cái tốt" mà cách mạng phải vươn tới tạo dựng bị bao vây, đè nén bởi "cái cũ", "cái xấu". Những lúc như thế, cách mạng không thực hiện tốt mục tiêu "vì dân" - quyền lợi của nhân dân không được chăm lo đầy đủ, thậm chí bị xâm hại. Về phương diện lý luận, đó cũng là thời gian chúng ta xa rời, hiểu và vận dụng không đúng nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng – chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

     Chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc là tiến lên chủ nghĩa xã hội nhằm ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Hồ Chí Minh nói rất rõ: Nếu nước được độc lập mà nhân dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập đó cũng không có ý nghĩa gì. Mỗi bước đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội phải được thể hiện bằng cuộc sống ấm no, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của nhân dân. Tuy nhiên, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện cuộc sống nhân dân vô cùng chật vật, khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần. "Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút chưa từng thấy". Thiếu thốn luôn đè nặng lên đa số gia đình. Công nhân viên chức ở thành thị đồng lương chỉ tạm trang trải được nhu cầu cơ bản chưa đầy nửa tháng. Đã vậy, tệ hại hơn là giá trị của đồng lương cứ thấp dần theo chiều hướng đi xuống của nền kinh tế. So với năm 1978, mức lương năm 1880 chỉ còn 51,1%. Năm 1984, với mức lương còn 32,7% so với năm 1978 chỉ áp ứng được nhu cầu sinh hoạt trong khoảng một tuần. Trong hoàn cảnh này, hầu hết gia đình phải chạy vạy làm thêm nhiều việc để có thêm thu nhập.

 

     Sản xuất nông nghiệp sa sút nên dù là nước giàu truyền thống nông nghiệp và được thiên nhiên ưu đãi nhưng nạn đói diễn biến ngày càng nghiêm trọng, ở nông thôn, vào lúc giáp hạt có tới hàng triệu gia đình nông dân thiếu ăn. Lương thực thiếu nên cơm độn ngô, sắn hay hạt bo bo diễn ra phổ biến. Thực phẩm khan hiếm, thịt cá rất ít xuất hiện trong bữa ăn của nhiều tầng lớp nhân dân. Trong suốt thời gian khó này, có những lúc cái sự ăn trở thành tất cả đối với người dân. Mọi người chỉ mong được "đủ ăn" theo nghĩa lương thực thực phẩm đáp ứng được nhu cầu tối thiểu, chưa thể nghĩ đến no và ngon.

 

     Công nghiệp, thương mại, dịch vụ hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp, năng suất lao động giảm, dần đi đến đình trệ. Các xí nghiệp nói chung chỉ sử dụng được khoảng một nửa công suất thiết kế, chất lượng sản phẩm sút kém. Lưu thông, phân phối rối ren, không thông suốt theo kiểu tem phiếu dẫn đến bất hợp lý và không thỏa mãn được nhu cầu đời sống của nhân dân. Mọi mặt hàng trong đời sống dù có tiền cũng không mua được, mà phải có tem phiếu. Đời sống nhân dân và nền sản xuất bị tác động tiêu cực bởi vật giá tăng nhanh, lạm phát đến mức phi mã. Người dân lúc nào cũng căng thẳng.

 

     Đời sống tinh thần không hơn gì đời sống vật chất. Ở nông thôn, có thể nói phương tiện thông tin duy nhất là radio thu sóng đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Mỗi huyện có một hiệu sách quốc doanh, cũng là một trung tâm văn hóa. Sự kiện nổi bật không thể bỏ lỡ của nhiều người dân nông thôn là chương trình lưu chiếu và lưu diễn của các đoàn phim, kịch với các thiết bị lạc hậu. Nhiều người dân phải đi bộ hàng chục cây số để xem. Truyền hình là ước mơ của đông đảo nhân dân bởi tivi vô cùng quý hiếm và điện thì không phải nơi nào cũng có. Người dân tụ họp rất đông tại các điểm công động nơi có đặt tivi để xem. Giao lưu văn hóa với nước ngoài rất hạn chế, chủ yếu gói gọn trong các nước xã hội chủ nghĩa.Vải vóc thiếu thốn nên thời trang của nhân dân sau mười năm thống nhất đất nước cơ bản không được cải thiện thêm so với trước đó, có mặt còn kém hơn. Quần áo trong giai đoạn này chỉ cần bền chứ chưa nghĩ đến đẹp.

    

     Cơ chế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu gò người dân trong những khuôn khổ chật hẹp và bất hợp lý. Quyền tự do chính đáng bị xâm phạm. Nhân dân không thể thỏa mãn nhu cầu chính đáng của mình mà phải theo kế hoạch, phân phối đã được định sẵn. Quan niệm cũ và phiến diện dẫn đến sự can thiệp quá mức vào thời trang, ăn uống, âm nhạc, giao tiếp, tình yêu đôi lứa...  Nhiều tính xấu nảy sinh trong trong cảnh nghèo khó, gò bó. Tâm lý soi mói, nghi ngờ, ghen tị lan rộng. Nhiều người chấp nhận cùng nghèo khó,   không ai được phép hơn mình.

    

     Đánh giá giai đoạn 1976 – 1980, văn kiện Đại hội V (1982) viết: "đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, nhất là đời sống của công nhân, viên chức và nông dân những vùng bị thiên tai, địch hoạ". Năm năm sau đánh giá này, tình hình không khả quan mà còn xấu hơn. Văn kiện Đại hội VI (1986) viết: "Đời sống của nhân dân, nhất là công nhân, viên chức còn nhiều khó khăn. Nhiều người lao động chưa có và chưa đủ việc làm. Nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vật chất và văn hoá chưa được bảo đảm. Nông thôn thiếu hàng tiêu dùng thông thường và thuốc men; nhà ở, điều kiện vệ sinh, sinh hoạt văn hoá ở nhiều nơi còn thiếu thốn, nghèo nàn".

 

     Trong một thập kỷ chậm đổi mới (1975 – 1986), áp lực cuộc sống vật chất, tinh thần khiến cho con người luôn ở trong trạng thái "cố mà sống". Tình cảnh đó khiến con người cảm thấy không bao giờ có thể vươn tới những cái cao đẹp. Nhu cầu tồn tại lấn át nhu cầu phát triển dẫn đến chỗ tự cho phép làm bất cứ điều gì khi thấy cần. Tiêu cực xã hội lan rộng. Lòng dân không yên. Đêm trước đổi mới (12/1986), đại đa số quần chúng nhân dân cảm thấy không thể tiếp tục sống như cũ được nữa.

 

     Hồ Chí Minh xem không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, làm cho nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của cách mạng. Đời sống của nhân dân là bộ mặt của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong điều kiện khủng hoảng kinh tế - xã hội , thiên tai dồn dập, dân tố tăng nhanh (trước 1986), việc chăm lo đời sống của nhân dân là một nhiệm vụ hết sức khó khăn của Đảng và Nhà nước. Song, không vì khó mà né tránh. Đảng khẳng định: "Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta còn khó khăn lâu dài, những khó khăn cũ chưa khắc phục xong cùng với những khó khăn mới nảy sinh, đang làm gay gắt thêm một số mặt mất cân đối của nền kinh tế. Trước mắt, có nhiều vấn đề cấp bách phải khẩn trương giải quyết như lương thực, thực phẩm, vải mặc, thuốc chữa bệnh, năng lượng, nguyên liệu, giao thông vận tải, giá cả, tiền lương, tài chính, tiền tệ..." .

 

     Có nhiều hạn chế, sai lầm đưa đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ đó khiến cho đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nhìn trực diện, nổi lên sai lầm trong việc duy trì quá lâu mô hình kế hoạch hóa bao cấp khi không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Không phải đợi đến năm 1975, sau khi thống nhất đất nước, thì mô hình này mới bộc lộ sự bất hợp lý trong mối tương quan với đời sống hiện hữu, trở thành tác nhân chính cho tình cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội. Mặc dù có sự nhất trí cao về ưu điểm và tác dụng tích cực to lớn của mô hình kế hoạch hóa trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, song sẽ sai lầm nếu né tránh đề cập đến những dấu hiệu cho thấy mô hình này đang dần trở nên không phù hợp, bị cuộc sống vượt qua ngay từ trước tháng 4 năm 1975. Không khó để lý giải bởi nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước đang bao trùm, thu hút hầu hết tâm lực của toàn dân tộc nên việc phát hiện các dấu hiệu này chưa được quan tâm. Điều này dễ thông cảm. Tuy nhiên, sau khi thống  nhất đất nước, việc duy trì quá lâu mô hình cũ khi không còn phù hợp là sai lầm. Chính cái cũ được đề cập ở đây làm cho nhân dân sống vô cùng khó khăn, đất nước rơi vào khủng hoảng. Cái cũ khi không còn phù hợp, trở thành lực cản thì cách mạng phải bỏ đi để thay bằng cái mới tiến bộ, phù hợp hơn. Bài học này Hồ Chí Minh đã nói rất rõ. "Đổi mới toàn diện là phát huy những thành quả to lớn mà cách mạng đã giành được, là sửa chữa những khuyết điểm sai lầm đã mắc phải trước đây, là biết sớm phát hiện và xử lý tốt những vấn đề mới phát sinh..." .

 

     Cần lưu ý rằng công cuộc đổi mới được khởi xướng từ sự khủng hoảng trên nhiều phương diện của đất nước, nhưng trước tiên và quan trọng nhất là khủng hoảng kinh tế. Đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng là vấn đề sống còn của cả dân tộc bởi nói liên quan trực tiếp đến đời sống đang vô cùng khó khăn của nhân dân. Đổi mới bắt đầu từ tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Nghĩa là, đổi mới phải đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng để đời sống nhân dân được cải thiện, tiến tới nâng chất lượng sống và thúc đẩy sự phát triển con người. "Đổi mới chính là quá trình rời bỏ khỏi mình những gì đang kìm hãm và cản trở sự phát triển; tổ chức lại xã hội, đưa vào cơ chế vận hành của xã hội một hệ thống đồng bộ các yếu tố vật chất và tinh thần, tạo nên lực đẩy cho sự phát triển vượt bậc" .

 

     Với tinh thần "Đảng ta không có mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân", Đại hội VI (1986) xác định các mục tiêu kinh tế - xã hội đầu tiên cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: “Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ. Hướng mọi cố gắng vào việc đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu của xã hội, dần dần ổn định và tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân. Cụ thể là bảo đảm ăn đủ no, có thêm dinh dưỡng, mặc đủ ấm; đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về bảo vệ sức khoẻ và chữa bệnh, đi lại, học hành và hưởng thụ văn hoá, tăng thêm đồ dùng thiết yếu của các gia đình, khắc phục một bước khó khăn về nhà ở, nhất là tại các thành phố và khu công nghiệp tập trung. Đó chính là yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện hiện nay.

 

     Ổn định đời sống nhân dân phải đi đôi với bảo đảm yêu cầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân để đủ sức tiếp nhận và đưa vào tái sản xuất mở rộng vốn vay và viện trợ của nước ngoài”.

 

     Sau năm năm thực hiện, Đại hội VII tiếp tục đề ra mục tiêu: Bảo đảm đầy đủ hơn các nhu cầu thiết yếu của nhân dân; đáp ứng những nhu cầu ngày càng đưa dạng của các tầng lớp dân cư. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội và thực hiện công bằng xã hội. Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng hoạt động các loại hình dịch vụ phục vụ đời sống nhân dân. Trong nhiều năm tiếp theo, không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được xem là mục tiêu, nhiệm vụ trung tâm.

 

     Ba mươi năm qua, đất nước đổi thay từng ngày, đời sống Nhân dân từ thiếu thốn, khó khăn đã được cải thiện rõ rệt, vươn lên dư giả, giàu có. Từ một nước phải nhập khẩu lương thực để cứu đói (199,5 nghìn tấn năm 1988)  đến năm 2015, Việt Nam đã xuất khẩu được 6,568 triệu tấn gạo và hiện là một trong ba nước xuất khẩu sản lượng gạo lớn nhất thế giới. Hàng hóa và các nhu yếu phẩm dồi dào đáp ứng tốt đời sống của Nhân dân. Hoạt động văn hóa đa dạng, phát triển mạnh mẽ hệ thống thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa được đẩy mạnh. Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển về quy mô, đa dạng hoá về các loại hình trường lớp từ mầm non đến cao đẳng, đại học. Mức độ tụt hậu của Nhân dân so với mặt bằng thế giới được rút ngắn đáng kể. Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân đạt nhiều kết quả, mở rộng mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở, không chế và đẩy lùi một số dịch bệnh nguy hiểm; tuổi thọ trung bình của dân số nước ta tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 73,2 (tỷ lệ người trên 65 tuổi chiếm gần 7% dân số) (năm 2015) vượt tuổi thọ trung bình của thế giới (trung bình thế giới là 69 tuổi). Nhìn chung, sau 30 năm đổi mới, cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân từ miền xuôi tới miền ngược, từ nông thôn tới thành thị, đều có sự thay đổi rõ rệt. Theo Phùng Hữu Phú, "Thành tựu ấy đi vào mâm cơm, tấm áo, phương tiện đi lại, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe… So với trước, chúng ta đã có một bước tiến dài. Đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của nhân dân phong phú hơn, dân chủ hơn, cởi mở hơn” .

 

     Từ khi đổi mới đến nay, theo các báo cáo được công bố, chỉ số phát triển con người (HDI) tăng đều đặn và liên tục suốt mấy thập kỷ qua: từ 0,561 năm 1985 lần lượt tăng lên 0,599 năm 1990; 0,647 năm 1995; 0,690 năm 2000; 0,715 năm 2005 và 0,725 năm 2007; đến năm 2015, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nên chỉ số phát triển con người suy giảm đôi chút, đạt 0,666. Nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu người thì xếp hạng HDI của Việt Nam năm 2007 vượt lên 13 bậc: GDP bình quân đầu người xếp thứ 129 trên tổng số 182 nước được thống kê, còn HDI thì xếp thứ 116/182. Đến năm 2015, HDI đứng thứ 116/185 quốc gia, đứng ở  nhóm các nước trung bình. Tổng quát nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã đạt được ba sự vượt trội: chỉ số đã tăng lên qua các năm; thứ bậc về HDI tăng lên qua các năm; chỉ số và thứ bậc về tuổi thọ và học vấn cao hơn chỉ số về kinh tế. Trong thực tế, quá trình "đó cũng là cuộc đấu tranh vì dân chủ, công bằng xã hội, lợi ích sống còn và cuộc sống có phẩm giá của quần chúng... Không có gì là quá đáng khi quan niệm rằng sự nghiệp đổi mới là sự nghiệp phục vụ cho phát triển, tiến bộ xã hội và phát huy con người. Đổi mới đã đặt con người ở vị trí trung tâm của những nỗ lực phát triển kinh tế và xã hội, là lợi ích của con người chính là căn bản của tất cả những hành động vì dân vì nước" .

 

     Nền kinh tế phát triển, Nhân dân được thụ hưởng đời sống ấm no hơn nhiều so với thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc hay bao cấp trước đổi mới. Tuy nhiên, còn một bộ phận lớn dân nghèo có sống chật vật, thiếu thốn. Theo báo cáo 30 năm đổi mới, nếu tính theo chuẩn nghèo mới thì hiện thời tỷ lệ nghèo còn khá cao và chênh lệch giàu nghèo có xu hướng tăng trong các năm gần đây. Tỷ lệ nghèo đa chiều (phản ánh thêm khía cạnh nghèo phi tiền tề như giáo dục, y tế, nhà ở, tài sản, thông tin, vệ sinh và môi trường,…) còn cao hơn nhiều so với nghèo tiền tệ. Người nghèo dễ bị tổn thương bởi các cú sốc về kinh tế, dịch bệnh và thiên tai trong khi độ bao phủ và chất lượng của hệ thống an sinh xã hội còn hạn chế. Tình trạng thiếu thốn thức ăn, đồ mặc, nhà ở và trường học xuống cấp nghiêm trọng, chăm sóc y tế yếu kém vẫn còn tồn tại và chưa được khắc phục đúng mức ở vùng sâu, vùng cao. Nhiều nơi còn  tình trạng mất dân chủ, xâm phạm quyền làm chủ, quyền tự do của Nhân dân; tình trạng duy ý chí, quan liêu, áp đặt sai pháp luật của cơ quan, cá nhân trong bộ máy chính quyền với người dân có xu hướng diễn biến phức tạp. Mặt khác, đời sống xã hội hiện nay đang nảy sinh và lan rộng biểu hiện tự do quá mức, vượt ngoài khuôn khổ pháp luật, vô tổ chức, mất kỷ cương. Điều kiện vật chất được cải thiện hơn nhưng các giá trị tinh thần trong gia đình, dòng tộc, cộng đồng xã hội đang bị tấn công và xói mòn nghiêm trọng. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc hay bao cấp trước đây, dù đời sống vật chất rất thiếu thốn nhưng nền tảng hạnh phúc gia đình, dòng tộc, cuộc sống hạnh phúc thôn xóm, cộng đồng vẫn cơ bản giữ được. Hiện nay, các giá trị đó đang bị xói mòn nghiêm trọng, tỷ lệ ly hôn lớn, những bất đồng xung đột trong quan hệ gia đình – xã hội diễn biến phức tạp. Không ít người đang thừa vật chất nhưng thiếu tinh thần nên không thể có một cuộc sống hạnh phúc đúng nghĩa. Thành tích về mặt phát triển con người thấp hơn so với phát triển kinh tế. Phát triển con người của Việt Nam từng tiến nhanh nhưng gần đây đã chậm lại. Mức độ và chủng loại những lợi ích gặt hái được trong giai đoạn đầu đổi mới giờ đây đã trở nên khó khăn hơn nhiều để đảm bảo. Chỉ số về sự phát triển con người đang giảm chậm - từ khoảng 1,7% trước năm 2000 xuống còn khoảng 0,96% trong những năm gần đây. Theo Báo cáo Phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và UNDP, “tốc độ tăng bình quân của chỉ số HDI là 1,07%/năm từ 1980 đến 2014, tức là thấp hơn mức bình quân 1,23% của các nước có mức phát triển con người trung bình và mức bình quân 1,29% của khu vực Đông Á – Thái Bình Dương. Tiến bộ chậm dần của Việt Nam trong thập kỷ qua đã kéo lùi sự tiến bộ phát triển con người khá nhanh của Việt Nam trước kia để ngày nay trở nên tụt hậu so với nhiều nước khác có cùng trình độ phát triển” .

 

     Trong thời gian qua, tư duy phát triển của chúng ta còn biểu hiện nặng về đời sống vật chất, thiếu sự quan tâm đúng mức cho đời sống tinh thần; quản lý phát triển xã hội còn lúng túng và thụ động so với biến động đời sống Nhân dân; đầu tư phát triển còn chưa đúng mức và mang lại hiệu quả ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, ở các bộ phận người dân nghèo dễ bị tổn thương bởi biến động kinh tế - xã hội. Do vậy, để tiếp tục chăm lo đời sống Nhân dân được tốt cần phải xem trọng khía cạnh xã hội của quá trình phát triển kinh tế. Thúc đẩy kinh tế phát triển để tiếp tục tạo ra nguồn của cải vật chất và thu nhập ngày càng tăng cho đời sống Nhân dân, đồng thời thực hiện nghiêm túc các tiêu chí phát triển bền vững. Nâng cao nhận thức và đầu tư đúng mức cho chính sách an sinh xã hội, hướng tới hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm và công bằng hơn. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh xã hội hoá, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học; từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước nói chung và cho từng ngành, từng lĩnh vực nói riêng, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh. “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hoá, làm tha hoá con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam” .

 

     Ba thập kỷ trôi qua kể từ mốc son khởi xướng (12/1986 ), ngần ấy thời gian là chưa nhiều so với dòng chảy vô tận của cách mạng nhưng suốt tiến trình đó, trong tất cả  các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, dù cách diễn đạt có khác nhau, song tinh thần cơ bản của các bài học được rút ra là: “... đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân". Bài học này không chỉ là ngọn nguồn để sự nghiệp đổi mới được khởi xướng mà còn là kim chỉ nam định hướng cho quá trình đổi mới thực sự đáp ứng mục tiêu và lý tưởng của toàn dân: cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được phát triển toàn diện.

-----------------------------------

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

2. Phương hướng, nhiệm vụ và những mục tiêu chủ yếu về kinh tế và xã hội trong 5 năm (1981 - 1985) và những năm 80 Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V do đồng chí Phạm Văn Đồng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng trình bày Ngày 27 tháng 3 năm 1982

3. Trần Nhâm, Có một Việt Nam như thế đổi mới và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.

4. Huyền Trang (2010), “Không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân như mong ước của Bác Hồ”, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam (www.vov.vn), cập nhật ngày 15-5.

5. Nguyễn Xuân Oánh, Đổi mới – Vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

6. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam – Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Tăng trưởng vì mọi người – Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2015.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016.

 

Nguyễn Phương An - Khoa LL MLN, TT HCM

các tin khác