Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa

08:39 05/11/2018

     “Toàn cầu hóa” và “Chủ quyền quốc gia” là hai trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất trên thế giới hiện nay. Không khó để lý giải điều đó bởi hai thuật ngữ này đang diễn tả gam màu chính trong bức tranh đời sống của nhân loại.
 
     Trên ý nghĩa phổ biến nhất, chủ quyền quốc gia là thuật ngữ dùng để chỉ quyền làm chủ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của một quốc gia độc lập nhất định, được thể hiện trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao và được đảm bảo toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt, cả lập pháp, hành pháp lẫn tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó.
     Sự tác động của toàn cầu hóa hiện nay không chừa quốc gia dân tộc nào. Điều này càng thể hiện rõ đối với nước đang phát triển như Việt Nam. Ở vị trí địa chính trị nhạy cảm, trong khu vực đang có bước phát triển năng động như Đông Nam Á, giữ vững chủ quyền quốc gia luôn đứng trước thách thức và khó khăn to lớn, chủ yếu từ các nhân tố tác động bên ngoài. Đặc biệt, chủ nghĩa bá quyền nước lớn trong những năm gần đây ngày càng bộc lộ với những tư tưởng và hành động tinh vi, phức tạp, trắng trợn, bất chấp các nguyên tắc và luật pháp quốc tế, đã đặt việc giữ vững chủ quyền quốc gia trước các thách thức nghiêm trọng. Chiến lược và những tính toán của các nước lớn khác trong mối tương quan đa chiều quốc tế tiếp tục khiến cho các thách thức, khó khăn trong việc giữ vững chủ quyền quốc gia càng trở nên phức tạp và nguy hại hơn.
     Với Hồ Chí Minh, độc lập, chủ quyền quốc gia là tối thượng thiêng liêng; là một trong những yếu tố trước hết của tất cả những gì Người muốn, tất cả những gì Người làm. Là biểu tượng của một quốc gia dân tộc yêu chuộng hòa bình, kể cả khi đứng trước âm mưu xâm lược, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần “chúng ta muốn hòa bình”. Tuy nhiên, khi bị thế lực ngoại xâm “lấn tới” với dã tâm “cướp nước ta”, ở trạng thái độc lập, chủ quyền quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, Hồ Chí Minh tuyên bố với quốc dân và thế giới rằng: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” . Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” . 
     Độc lập, chủ quyền quốc gia chiếm phần nhiều trong di sản lý luận và thực tiễn hoạt động yêu nước, hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong di sản lý luận, cả khi đề cập trực tiếp hay lồng ghép trong các chủ đề khác, Hồ Chí Minh đều kiến giải những quan điểm toàn diện và sâu sắc về quan niệm, tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung, phương pháp, lực lượng, chủ thể lãnh đạo,… giành lại và bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh thể hiện thái độ “bất biến” về bảo vệ, giữ vững chủ quyền quốc gia nhưng lại linh hoạt, mềm dẻo trong xác định đối sách. Tất cả để lại những chỉ dẫn rất có giá trị và sâu sắc tính thời sự. 
     Thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là thắng lợi được soi đường bởi tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, chủ quyền quốc gia. Hiện nay, trước đặc điểm tình hình mới, việc giữ vững chủ quyền quốc gia phải có những điều chỉnh, thích nghi trên cơ sở vẫn đảm bảo các nguyên tắc bất biến bằng nhiều phương thức linh hoạt, phù hợp. 
     Một là, điều chỉnh nhận thức về toàn cầu hóa và việc giữ vững chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa cho phù hợp và đúng đắn hơn; thực hiện chính sách đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo nhưng đảm bảo nguyên tắc bất biến. 
     Bảo vệ chủ quyền quốc gia ngày nay không có nghĩa khép kín mà là “mở”. Chủ động tham gia vào toàn cầu hóa là cần thiết và cũng chính là sự thực hiện chủ quyền quốc gia chứ không phải mất đi chủ quyền. Cần xóa đi quan niệm cho rằng giữ vững chủ quyền quốc gia là “đóng cửa”, thu mình lại. Trái lại, trong bối cảnh toàn cầu hóa, chủ quyền quốc gia chỉ được giữ vững bởi những người luôn biết nhận thức vươn ra và chủ động trong mọi mối quan hệ quốc tế. Với sự chủ động ấy của nhận thức, hành động giữ vững chủ quyền quốc gia sẽ linh hoạt và hữu hiệu hơn.
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế. 
     Quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt những nguyên tắc được Hồ Chí Minh chỉ ra: 
     (1) “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích dân tộc mà làm” . Tất cả mọi sự hợp tác theo Hồ Chí Minh đều phải hướng đến việc phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đây là cơ sở của nguyên tắc “chủ động hội nhập” và “hòa nhập nhưng không hòa tan” trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.
     (2) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuy mong muốn mở cửa và hợp tác nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh rằng, hội nhập phải dựa trên nguyên tắc: "Hợp tác, đồng ý! Nô lệ, không! Và điều kiện trước hết cho sự hợp tác là Độc lập" . Đây là nguyên tắc bất di bất dịch trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập và phải ra sức để bảo vệ thành quả lớn nhất đó. Hồ Chí Minh cũng hiểu rõ rằng các đối tác, đặc biệt là những nước lớn không đơn thuần muốn cộng tác thật thà với Việt Nam. Đằng sau những thiện chí được thể hiện ra mặt luôn có những động cơ thôn tính hoặc đơn giản là khống chế. Đó là điều thường hay xảy ra trong quan hệ với các nước lớn. 
     (3)  “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà” . “Thật thà” ở đây được hiểu là sự chân thành trong hợp tác vì những lợi ích chính đáng của cả hai bên. Không chấp nhận những ý đồ đen tối ẩn chứa đằng sau các hoạt động đối ngoại. Rõ ràng, “tự nguyện” và “thật thà” là nguyên tắc không thể thiếu trong hội nhập quốc tế ở thế giới toàn cầu hóa.
     (4) Hợp tác trên tinh thần bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Năm 1959, trả lời nhà báo Nhật Bản Si-ra I-si Bộ về mối quan hệ Nhật-Việt, Người nhấn mạnh: Chính sách mở cửa của Việt Nam là sẵn sàng quan hệ hợp tác phát triển kinh tế với Nhật Bản và các nước khác trên thế giới trên tinh thần bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Nguyên tắc này cũng được Hồ Chí Minh nhắc đến trong “kêu gọi các nhà tư bản, các kỹ sư… của nước Pháp đến đầu tư để cùng hưởng lợi”. Như vậy, yếu tố “đồng thuận” đã được Hồ Chí Minh nêu lên như là một trong những nguyên tắc quan trọng của hội nhập quốc tế.
     (5) Chủ động, linh hoạt, tự lực tự cường. Hồ Chí Minh căn dặn: Sự giúp đỡ của bạn là quý báu, chúng ta phải biết ơn sự giúp đỡ đó, nhưng chớ vì bạn giúp ta nhiều, mà trông chờ ỷ lại. Mỗi lần người Việt Nam cần phát huy cao độ tinh thần độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” . 
     Hai là, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân; phát triển đất nước nhanh và bền vững, trước hết và chủ yếu về kinh tế, nhằm tạo sức mạnh nội lực ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia.
     Để can thiệp, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia, thế lực ngoại xâm nhiều lúc chưa đến mức phải sử dụng chính thức các hoạt động chiến  tranh xâm lược kiểu mới, mà trên thực tế chỉ với việc sử dụng môi trường toàn cầu hóa để tạo áp lực và can thiệp, chi phối cũng đã hầu như đạt được mục tiêu đặt ra. Do vậy, để giữ vững chủ quyền quốc gia, chúng ta cần phải tăng cường tiềm lực quốc phòng trên cơ sở xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân phù hợp với đặc điểm, yêu cầu mới.
    Toàn cầu hóa diễn ra trước hết và chủ yếu là toàn cầu hóa kinh tế. Điều đáng quan tâm hơn là, trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, chủ quyền quốc gia đang phải đối đầu với nhiều thách thức được che dấu dưới những chiếc áo khoác nhiều màu sắc hấp dẫn của lợi ích kinh tế. Trong tiến trình tham gia vào toàn cầu hoá kinh tế, không thể chỉ có “hội nhập” mà không tính đến chủ quyền quốc gia. Phát huy năng lực cạnh tranh và khả năng “tự miễn dịch”, tìm ra và phát huy mạnh mẽ năng lực nội sinh, tìm ra phương thức “tác chiến” phù hợp, có hiệu quả để không bị các thế lực “cá lớn” nuốt trôi. Nếu chúng ta không tự “lớn lên”, không tự “trưởng thành” thì sớm muộn cũng bị mất chủ quyền quốc gia một cách rất “êm dịu”.
     Ba là, phân định đúng đối tượng đấu tranh.
     Quá trình phát triển của bất cứ dân tộc nào luôn phải giải quyết câu hỏi: Ai là bạn ta? Ai là thù ta? vì xã hội luôn tồn tại song hành hai thế lực: tiến bộ và phản động. Bản chất của toàn cầu hóa mang tính hai mặt. Bên cạnh các tác động tích cực, toàn cầu hóa luôn mang lại sự mập mờ cho các quốc gia dân tộc trong xác định đối tượng và đối tác, đối đầu hay đối thoại, tiến bộ hay phản động. Quá trình liên kết hóa quan hệ quốc tế khiến cho ranh giới giữa hai cực này vốn đã mỏng lại còn mong manh hơn. 
     Đất nước đã trải qua hơn 30 năm đổi mới. Thắng lợi to lớn nhưng khó khăn thử thách cũng không nhỏ. Tiền đồ vững bền của đất nước sẽ nhanh chóng bị lung lay và tiêu tan nếu chúng ta buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ trong quan hệ với xây dựng và phát triển đất nước. Bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới, những hệ quả của quá khứ khiến cho cuộc đấu tranh chống kẻ địch càng khó khăn hơn. Để giải quyết những vấn đề nan giải đó, cần rút ra một số phương pháp xác định kẻ thù cũng như đấu tranh với chúng mà Hồ Chí Minh thể hiện như sau:
     (1) Trước tính chất phức tạp trong xác định bạn, thù, Đảng ta cần xuất phát từ sự quan sát đúng đắn tình hình trong nước và thế giới. Trên cơ sở thực tiễn, vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xác định đồng minh hay kẻ thù. Đây là công thức được Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện và thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Làm được như Hồ Chí Minh đã làm, chúng ta sẽ có một đối sách hợp lý trước mọi loại kẻ thù.
     (2) Học tập và phát huy tư duy biện chứng Hồ Chí Minh trong việc xác định kẻ thù của cách mạng. Điều này giúp cho chúng ta thoát khỏi sự cứng nhắc trong suy nghĩ, hạn chế về chủ trương và sai sót trong hành động. Phải xác định đâu là bạn ta, đâu là thù ta ở từng thời điểm lịch sử cụ thể, trong mối quan hệ với các chủ thể khác và trong chính bản thân nó. Hồ Chí Minh trở nên vĩ đại bởi trong chính “cơ thể” của kẻ thù mình, Người luôn nhận thấy bạn đồng minh chiến lược. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và quốc tế mà Việt Nam có được trong hai cuộc kháng chiến cho đến nay phần không nhỏ là kết quả của tư duy biện chứng Hồ Chí Minh khi xác định kẻ thù của cách mạng.
     (3) Quán triệt phương pháp đấu tranh chống kẻ thù theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là phương pháp dĩ nhu thắng cương, mềm dẻo nhưng kiên quyết, khoan dung nhưng dứt khoát. Kẻ thù nào phải dùng bạo lực, kẻ thù nào không nên trấn áp mà chỉ có thể cải tạo, kẻ thù nào cần tiêu diệt ngay và kẻ thù nào phải đánh lâu dài. Tất cả đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra và chứng minh qua quá trình lãnh đạo cách mạng. 
     Bốn là, dựa vào dân trong bảo vệ chủ quyền quốc gia.
     Thực tiễn lịch sử chứng minh quy luật giữ vững chủ quyền quốc gia gắn liền với sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa làm thu hẹp quyền lực quốc gia, thu hẹp phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước dân tộc, chủ quyền quốc gia dễ bị xâm phạm, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia trở nên khó khăn hơn. 
     Thời gian gần đây, việc Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm chủ quyền Việt Nam, trắng trợn vi phạm luật pháp quốc tế qua hành động đưa các dàn khoan thăm dò dầu khí vào vùng biển và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đưa tàu vũ trang và nhiều phương tiện khác bảo vệ dàn khoan và gây hấn, xung đột với các đơn vị chấp pháp của Việt Nam, một lần nữa đặt ra các thách thức và khó khăn to lớn cho việc giữ vững chủ quyền quốc gia. Trong bối cảnh ấy, tồn tại không ít trong dư luận, trong những câu chuyện bên lề về các ý kiến xoay quanh trả lời cho câu hỏi: Việt Nam dựa vào ai trong bảo vệ chủ quyền quốc gia? Có người cho rằng nên dựa vào một cường quốc phát triển nào đó để tạo đối trọng với Trung Quốc. Cũng có ý kiến cho rằng nên dựa vào một liên minh trong khu vực. Đây là vấn đề quan trọng, nếu không được phổ biến nâng cao nhận thức một cách đúng đắn thì rất dễ tạo nên những băn khoăn, bất đồng trước các quyết sách của Đảng và Nhà nước để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
     Quan điểm nhất quán của Đảng ta từ lâu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: Muốn bảo vệ đất nước phải tạo dựng được sức mạnh tổng hợp được hình thành từ sự kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nội lực với ngoại lực. Trong mối quan hệ của sự kết hợp ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến vai trò chủ yếu, quyết định của sức mạnh dân tộc, của nội lực. Hồ Chí Minh căn dặn: Sự giúp đỡ của bạn là quý báu, chúng ta phải biết ơn sự giúp đỡ đó, nhưng chớ vì bạn giúp ta nhiều, mà trông chờ ỷ lại. “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác đến giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.
     Rõ ràng, ở Hồ Chí Minh, ở Đảng và Nhà nước ta, không bao giờ chỉ trông chờ vào việc dựa vào một chủ thể thứ ba nào đó trong bảo vệ chủ quyền quốc gia. Hồ Chí Minh cũng hiểu rõ rằng các đối tác, đặc biệt là những nước lớn không đơn thuần muốn cộng tác thật thà với Việt Nam. Đằng sau những thiện chí được thể hiện ra mặt luôn có những động cơ thôn tính hoặc đơn giản là khống chế. Đó là điều thường hay xảy ra trong quan hệ với các nước lớn. Chiến lược và những tính toán của các nước lớn trong mối tương quan đa chiều quốc tế luôn khiến cho các thách thức, khó khăn trong việc giữ vững chủ quyền quốc gia càng trở nên phức tạp và nguy hại hơn. Trên thực tế, trong thập niên bảy mươi của thế kỷ XX, trước hành động Trung Quốc xâm lược quần đảo Hoàng Sa, Mỹ lúc ấy là “bà đỡ”, “người bảo hộ”, đồng minh chiến lược đã bỏ rất nhiều vật chất, con người để dựng lên và bảo vệ chế độ ngụy quyền Sài Gòn nhưng hầu như không có các hành động ngang tầm để giúp đỡ quân đội Sài Gòn đã thực thi các hoạt động bảo vệ biển đảo. Trong thập niên sau đó, Trung Quốc tiến hành các hành động xâm phạm chủ quyền đất nước ở quần đảo Trường Sa. Bấy giờ, Liên Xô dù có đơn vị quân đội đóng tại cảng Cam Ranh nhưng cũng không thật sự “tích cực” trong giúp đỡ chúng ta. Thời gian gần đây, trước nhiều mối tương quan lợi ích, khi Việt Nam đang kiên quyết đấu tranh chống hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh hải quốc gia, thì vẫn có nơi không muốn vì Việt Nam mà gây mất lòng Trung Quốc. Do vậy, tiếng nói của họ trong bảo vệ công lý còn nặng về hình thức và dè chừng. Đặc điểm ấy một lần nữa chứng minh sự đúng đắn của luận điểm dựa vào sức mình là chính được Hồ Chí Minh và Đảng ta quán triệt thực hiện. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Để bảo vệ chủ quyền quốc gia, Việt Nam không dựa vào ai hết ngoài dựa vào dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của toàn dân… Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân” . Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng kiến những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước. Thắng lợi có được là do sức mạnh của nhân dân được tập hợp và phát huy.
      Nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng. Có nhân dân, Đảng mới có quyền lãnh đạo. Nhân dân lại là lực lượng cách mạng to lớn. Lực lượng mạnh thì Đảng mới vững, cách mạng mới thắng lợi. Làm cho dân mạnh tức là làm cho đối tượng lãnh đạo của Đảng, làm cho lực lượng cách mạng của Đảng vững mạnh. Đó cũng là làm cho Đảng vững mạnh. Nhân dân là một tập hợp không thuần nhất. Trách nhiệm của Đảng là phải không ngừng đoàn kết nhân dân thành một khối, chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy dân chủ, khai thác trí dân, lực dân, tài dân phục vụ sự nghiệp cách mạng. Khi Đảng làm cho nhân dân phát huy được sức mạnh vô địch là lúc Đảng mạnh, làm cho nhân dân trở thành anh hùng là Đảng anh hùng. Nhân dân thế nào, rất quan trọng, quyết định Đảng thế ấy.
     Tuy nhiên, cần tránh cái nhìn siêu hình, cực đoan trong dựa vào dân để bào vệ chủ quyền quốc gia. Dựa vào dân là chính, là cốt lõi, là nền tảng, nhưng không chỉ có thế là đủ, thế là được, thế là không cần đến các yếu tố khác. Trên cái nền tảng là sức mạnh nhân dân, cần có sự kết hợp với sức mạnh của thời đại, của ngoại lực. Muốn vậy, cần xây dựng một nội lực quốc gia vững mạnh kết với với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, linh hoạt, sáng tạo. Một khi trở lên mạnh, trở nên khéo thì chúng ta sẽ tạo nên “lực hút” lớn cho sự quan tâm và ủng hộ của các quốc gia, tổ chức quốc tế.
     Giữ vững chủ quyền quốc gia không phải là trách nhiệm thiêng liêng của riêng ai mà là của toàn dân tộc Việt Nam. Mặc dù đất nước chúng ta không lớn, đang phát triển với nhiều khó khăn, nhưng nếu biết phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, trên tất cả các lĩnh vực, với các đối sách chủ động, linh hoạt, sáng tạo, kiên trì,... thì chắc chắn chủ quyền quốc gia sẽ được giữ vững. 
     Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Đồng thời, Người cũng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước…” . Đó là những chỉ dẫn thôi thúc, soi đường cho chúng ta giữ vững chủ quyền quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

PGS TS Huỳnh Thị Gấm 
Nguyễn Phương An

Responsive image
 

 

các tin khác