Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

“BIỆN CHỨNG”, “PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG” VÀ “PHÉP BIỆN CHỨNG”

07:15 20/04/2017

Trong giảng dạy Triết học, thuật ngữ “Biện chứng”, “Phương pháp biện chứng” và “Phép biện chứng” xuất hiện phổ biến. Đây là một nội dung quan trọng của chuyên ngành Triết học trong chương trình đào tạo ở nhiều hệ bậc, trong đó có chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính. Mục tiêu đào tạo của chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính cũng bao gồm trong đó hình thành lối tư duy và hành động biện chứng trong quá trình sống cũng như công tác của người cán bộ bởi đó là sự đảm bảo cho nhận thức, hành động đúng đắn, hiệu quả. Quá trình triển khai các nội dung này cần ưu tiên trước hết cho việc làm rõ một cách dễ hiểu những thuật ngữ với tư cách là khái niệm nêu trên.

  Trong giảng dạy Triết học, thuật ngữ “Biện chứng”, “Phương pháp biện chứng” và “Phép biện chứng” xuất hiện phổ biến. Đây là một nội dung quan trọng của chuyên ngành Triết học trong chương trình đào tạo ở nhiều hệ bậc, trong đó có chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính. Mục tiêu đào tạo của chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính cũng bao gồm trong đó hình thành lối tư duy và hành động biện chứng trong quá trình sống cũng như công tác của người cán bộ bởi đó là sự đảm bảo cho nhận thức, hành động đúng đắn, hiệu quả. Quá trình triển khai các nội dung này cần ưu tiên trước hết cho việc làm rõ một cách dễ hiểu những thuật ngữ với tư cách là khái niệm nêu trên.

   

      “Biện chứng” là thuật ngữ xuất hiện từ thời kỳ cổ đại. Ở Hy Lạp cổ đại, các triết gia sử dụng thuật ngữ “Biện chứng” với nghĩa là nghệ thuật tranh luận, đàm thoại, thông qua sự tranh luận mà tìm ra chân lý. Biện chứng được hiểu là nghệ thuật phát hiện và chứng minh chân lý. Các nhà khoa học Liên Xô quan niệm thuật ngữ “Biện chứng” với nghĩa thoạt đầu là nghệ thuật đối thoại và tranh luận bao gồm hai điểm chính: (1) Tài năng tranh luận bằng cách hỏi và đáp; (2) Nghệ thuật phân loại các khái niệm, phân chia các sự vật thành chủng và loại. Thuật ngữ “Biện chứng” chưa xuất hiện trong các nghiên cứu của Heraclitus (535 TCN – 475 TCN), phái Mi-lê, phái Pitago. Theo Aristotle (384 TCN – 322 TCN), Đê-nông (346 TCN – 264 TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này khi được xem là tác giả phát minh phép biện chứng.

 

     Cùng với sự phát triển của lịch sử và của tư tưởng triết học, thuật ngữ “Phép biện chứng” được sử dụng để chỉ một phương pháp nhìn nhận thế giới – phương pháp biện chứng. Đó là phương pháp luận thường nằm ở vị trí đối lập với phương pháp siêu hình. Đó là phương pháp nhìn nhận thế giới như một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi sự vật, hiện tượng đều có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại với nhau và chúng vận động, biến đổi, phát triển không ngừng. Phương pháp biện chứng đối lập với phương pháp siêu hình vốn nhìn nhận thế giới như một tập hợp các sự vật tồn tại biệt lập, cái này bên cạnh cái kia, không có sự vận động biến đổi, hoặc chỉ có sự vận động biến đổi dưới hình thức cơ giới giản đơn.

    

     Hiện nay, trong nhiều trường hợp, người ta sử dụng thuật ngữ “Biện chứng” như là cách gọi tắt của “Phương pháp biện chứng”. Mặt khác, cũng trong nhiều trường hợp, thuật ngữ “Phương pháp biện chứng” có cách gọi khác là “Phép biện chứng” và “Biện chứng” là cách gọi tắt của cả hai thuật ngữ này. Với cách gọi này, thì cả “Biện chứng”, “Phương pháp biện chứng”, “Phép biện chứng” đều chỉ là cách gọi khác nhau của một phương pháp nhìn nhận thế giới đối lập với phương pháp siêu hình. Tuy nhiên, nếu bắt buộc phải phân biệt giữa thuật ngữ “Biện chứng” và “Phương pháp biện chứng”, có thể tiếp cận theo nghĩa thoạt đầu. Theo đó, “Biện chứng” lúc đầu được dùng để phản ánh một kiểu, một loại hình đối thoại, tranh luận để tìm ra chân lý. Lúc này, “Biện chứng” nghiêng về là một tên gọi cho “kiểu”, “loại hình” đó hơn là hàm chứa trong nó những nội dung lý thuyết tương đối đầy đủ và xa hơn nữa là trở thành phương pháp luận đại diện cho một trường phái, đường hướng triết học trong thực tiễn. Thuật ngữ “Phương pháp biện chứng” ra đời sau đó khi sự phát triển của lịch sử và tư tưởng triết học đã bổ sung, cung cấp các nội hàm nội dung lý thuyết đầy đủ hơn, rõ ràng hơn và về mặt thực tiễn, đã trở thành phương pháp luận cho một lực lượng thực tiễn cụ thể có sự đối lập với những người theo phương pháp siêu hình.

 

     Như vậy, theo nghĩa thoạt đầu, thuật ngữ “Biện chứng” đơn giản chỉ là tên gọi của một kiểu, một loại hình tranh luận, đối thoại trong phát hiện và chứng minh chân lý; nó chưa bao hàm trong đó những nội dung lý thuyết ở mức độ hệ thống và cũng chưa định hình rõ ràng lực lượng thực tiễn lấy nó làm phương pháp để nhận thức. Khi sử dụng thuật ngữ “Phương pháp biện chứng” tức là đang nói về phương pháp nhìn nhận thế giới ở tầm mức phương pháp luận, có lực lượng thực hành cụ thể, có hệ thống nội dung lý thuyết.

    

     Thuật ngữ “Phép biện chứng” thường được dùng với hai góc độ:

 

     Thứ nhất, “Phép biện chứng” là cách gọi khác của “Phương pháp biện chứng” cùng để chỉ một phương pháp nhìn thế giới trong sự tác động qua lại, sự liên hệ, sự phụ thuộc vào nhau của các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng.

 

     Thứ hai, người ta phân biệt ở chỗ khi dùng thuật ngữ “Phép biện chứng” với tư cách tên gọi của một khoa học chứ không dừng lại ở một phương pháp như thuật ngữ “Phương pháp biện chứng”.

 

     Thuật ngữ “Phương pháp biện chứng” nghiêng về tên gọi của một phương pháp (bao hàm trong đó cả yếu tố lý thuyết và thực hành) nhưng chưa xác định đối tượng nghiên cứu cụ thể. Thuật ngữ “Phép biện chứng” (trong trường hợp đang nói) lại là tên gọi của một khoa học (bao hàm hệ thống các lý thuyết) có đối tượng nghiên cứu cụ thể. Theo Friedrich Engels (1820 – 1895), “Phép biện chứng” “là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. “Phép biện chứng” có đối tượng nghiên cứu của mình là những quy luật và tính quy luật nằm trong khách thể nghiên cứu của nó; sư khu biệt phép biện chứng với các khoa học khác ở chỗ phép biện chứng nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất, chúng được rút ra từ mọi lĩnh vực của hiện thực và tư duy, chúng tồn tại và tác động trên mọi lĩnh vực đó.

    

     Như vậy, thuật ngữ “Phép biện chứng” đã được dùng với nhiều nghĩa khác nhau và cho đến ngày nay vẫn tồn tại với hai nghĩa: biện chứng với tư cách là phương pháp nhìn nhận thế giới và biện chứng với tư cách là hệ thống lý luận phản ánh các quy luật vận động, biến đổi của thế giới hiện thực.

    

     Tóm lại, các thuật ngữ “Biện chứng”, “Phương pháp biện chứng”, “Phép biện chứng” có lịch sử ra đời khác nhau. Trong nhiều trường hợp, người ta xem cả ba là một, chỉ phương pháp nhìn nhận thế giới. Tuy nhiên, trong trường hợp phải phân biệt, thì sự phân tích một cách đơn giản theo nghĩa thoạt đầu nêu trên đã được sử dụng phổ biến, có thể xem là một tham khảo cần thiết.

Nguyễn Phương An- Khoa LL MLN, TT HCM

các tin khác