Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh An Giang

09:22 22/05/2017

An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã, thành phố (8 huyện, 2 thị xã, 1 thành phố) và 156 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn. Có 18 xã biên giới, 36 xã dân tộc (Khmer 27 xã, Chăm 09 xã nằm trên địa bàn 08 huyện), 35 xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 30/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện tỉnh An Giang có 30 dân tộc; trong đó dân tộc thiểu số là 29 dân tộc, với 112.809 người, chiếm 5,26% dân số cả tỉnh. Dân tộc thiểu số có số dân khá đông là  dân tộc Khmer, dân tộc Chăm, dân tộc Hoa. Dân tộc Khmer toàn tỉnh có 90.271 người, chiếm tỉ lệ 4,2% dân số cả tỉnh, sống tập trung nhiều nhất ở 2 huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên (trên 80.000 người), số còn lại sống rải rác ở một số huyện khác (Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú và thị xã Châu Đốc). Đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang theo Phật giáo Nam tông, sống chủ yếu bằng nông nghiệp và chăn nuôi gia đình. Dân tộc Chăm có 14.209 người, chiếm tỉ lệ gần 0,66% dân số cả tỉnh, sống tập trung ở  huyện An Phú và thị xã Tân Châu; số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành; hầu hết theo đạo Hồi giáo Islam; sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, buôn bán hàng rong và dệt hàng thủ công truyền thống. Dân tộc Hoa có 8.075, chiếm tỉ lệ 0,37% dân số cả tỉnh, sống xen kẻ với người Kinh trong khu đông dân cư. Cuộc sống của đồng bào người Hoa tương đối khá, tỉ lệ hộ nghèo rất thấp, chỉ có vài hộ .
Việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc luôn được tỉnh quan tâm, tập trung chỉ đạo, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn từ Trung ương, ngân sách tỉnh và các nguồn lực khác thông qua các chương trình, dự án, chẳng hạn như đã đầu tư xây dựng 5.420 căn nhà và 54 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, với tổng kinh phí hơn 51,4 tỷ đồng từ năm 2004 - 2008. Thực hiện Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 về tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134 kéo dài), tỉnh tiếp tục thực hiện các công trình cấp nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số năm 2012, với kinh phí 18,3 tỷ đồng, trong đó, đầu tư 19 hạng mục công trình nước sinh hoạt với số hộ thụ hưởng là 3.395 hộ ở 3 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (dân tộc Khmer) và An Phú (dân tộc Chăm).
Thực hiện hỗ trợ cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn vay vốn sản xuất ưu đãi theo Quyết định 32/2007/QĐ-TTg. Tính từ 2007 đến 2011, doanh số cho vay là 2,5 tỷ đồng, với 501 hộ ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (Khmer), An Phú (Chăm) vay vốn để chăn nuôi, buôn bán nhỏ, khung định suất cao nhất 05 triệu đồng/hộ. Trong quá trình triển khai thực hiện, địa phương còn phân công các tổ chức đoàn thể, phụ nữ, Ban xoá đói giảm nghèo và cán bộ nông nghiệp trực tiếp tham gia giúp đỡ các hộ lập kế hoạch tổ chức sản xuất nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn vay. Việc đưa vốn đến từng hộ đồng bào dân tộc nghèo đã tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và sử dụng vốn hiệu quả.
Việc triển khai chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2008-2010 theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg và Quyết định 1342/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2012. Toàn tỉnh có 371 hộ đồng bào dân tộc Khmer, Chăm, với 1.528 nhân khẩu, trong đó, dân tộc Khmer là 343 hộ, 1.396 khẩu cần bố trí định canh, định cư để ổn định chỗ ở. Trong 2 năm (2009, 2010), tỉnh đã giao đất ở cho 200 hộ đồng bào dân tộc Khmer nghèo, với số tiền 4 tỷ đồng. Năm 2012, qua rà soát còn 350 hộ có nhu cầu hỗ trợ chính sách định canh, định cư (Tri Tôn 250 hộ, Tịnh Biên 90 hộ, An Phú 10 hộ), Tỉnh được phân bổ 07 tỷ đồng để tiếp tục triển khai thực hiện chính sách .
  Về hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các xã vùng biên giới, thời gian qua, đã đầu tư hỗ trợ cho 18 xã của 5 huyện, thị biên giới, bao gồm huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, thị xã Châu Đốc và Tân Châu. Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các xã tuyến biên giới từ năm 2008- 2012 là 46,778 tỷ đồng. Cùng với sự đầu tư đồng bộ có chiến lược, cơ sở hạ tầng của 18 xã biên giới từng bước được nâng cấp, mạng lưới chợ biên giới được đầu tư phát triển, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế biên mậu, tạo đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong vùng biên giới Việt Nam - Camphuchia. Thông qua các chính sách dân tộc, nhiều hộ được cấp nhà ở, đất ở, được hỗ trợ vốn, vay vốn tập trung phát triển sản xuất, mức sống của đồng bào dân tộc ngày được nâng cao, nhiều hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, nước sinh hoạt hợp vệ sinh, số hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh dần được cải thiện. Từ những con đường lầy lội trong những ngày đầu, đến nay các tuyến đường chính vùng dân tộc đều được bê tông, nhựa hóa, 100% xã đã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm huyện đến xã. Tuyến đường huyết mạch đã được nâng cấp, láng nhựa, góp phần quan trọng trong việc giao thương giữa các vùng. Vào mùa khô, những khu vực trước đây không đủ nước tưới nay nhờ có hệ thống thủy lợi vùng cao, một số vùng bà con nông dân có thể sản xuất lúa từ 01 vụ/năm lên 03 vụ/năm, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc ngày một đi lên.
Về khôi phục, bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống của đồng bào dân tộc. Toàn tỉnh có 33 làng nghề tiểu thủ công nghiệp, 49 nghề tiểu thủ công nghiệp ở 78 địa bàn trong tỉnh với 6.181 hộ, giải quyết việc làm cho 18.324 lao động. Trong đó, vùng dân tộc có 02 làng nghề và 04 nghề tiểu thủ công nghiệp như làng nghề dệt thổ cẩm, làm đường thốt nốt, nghề làm gốm, ... Việc bảo tồn phát triển ngành nghề truyền thống cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được quan tâm đầu tư khôi phục, phát triển, UBND tỉnh đã xây dựng “Đề án phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp cho đồng bào dân tộc Khmer và Chăm, giai đoạn 2008 - 2012", nhằm đẩy mạnh hỗ trợ vay vốn và thiết bị góp phần ổn định sản xuất cho các hộ tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề; hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp thị, tìm kiếm thị trường, đối tác kinh doanh, tham gia hội chợ, tham quan học tập kinh nghiệm để áp dụng các mô hình sản xuất có hiệu quả ở các địa phương khác. Từ đó, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đang từng bước khôi phục và phát triển, đã góp phần giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn trong vùng có đông đồng bào dân tộc.
Về việc thực hiện chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Năm 2011, toàn tỉnh có 107 người được bầu chọn là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số (Khmer 81, Hoa 14, Chăm 12). Năm 2012 - 2013 có 114 người uy tín (Khmer 82, Hoa 19, Chăm 11, Nùng 01, Mường 01); năm 2014 có 117 người uy tín hiện đang tiếp tục triển khai thực hiện chính sách. Thực hiện chính sách hàng năm Ban tổ chức thăm tặng quà nhân ngày lễ tết của đồng bào dân tộc thiểu số và khi các vị ốm đau. Cấp phát báo An Giang mỗi tuần 4 số báo, ngoài ra còn được cấp một số báo dân tộc và phát triển, tạp chí dân tộc...
Công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho cán bộ, công chức công tác tại vùng có đông đồng bào dân tộc sinh sống được tỉnh quan tâm. Từ năm 2006 - 2007, đã triển khai kế hoạch bồi dưỡng tiếng Khmer cho cán bộ, viên chức ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đang công tác, giảng dạy ở vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc và giao cho Trường THPT dân tộc nội trú tỉnh phối hợp với các ngành Hải quan, Biên phòng, Viện Kiểm sát nhân dân,... hàng năm (1 - 2 đợt) tổ chức kiểm tra cấp chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Khmer cho cán bộ, công chức và nhân dân ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer. Qua đó, đáp ứng phần nào tình trạng bất đồng ngôn ngữ với đồng bào dân tộc, góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các chủ trương, chính sách, chương trình phát triển có liên quan của Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những  kết quả thực hiện được, thì nhìn chung đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn nhất là đồng bào Khmer. Qua số liệu tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số trong thời gian qua giảm từ 31,43% (6.895 hộ) năm 2007 xuống còn 20,5% (4.550 hộ) vào năm 2010 (chuẩn cũ), bình quân giảm 2,73%/năm (586 hộ/năm); cuối năm 2011 (chuẩn mới), hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm từ 22,70% (5.950 hộ) xuống còn 17,43% (4.870 hộ) vào cuối năm 2013 . Tỷ lệ hộ nghèo tuy giảm nhưng số phát sinh nghèo mới tăng, thoát nghèo thiếu bền vững
 Đồng bào dân tộc do tập quán canh tác, phương thức sản xuất truyền thống còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, việc tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn; do trình độ sản xuất thấp nên trong công tác tuyên truyền, khuyến cáo, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế. Nguồn kinh phí đầu tư từ nhiều chương trình còn phân tán, chưa tập trung, nên trong quá trình triển khai một số dự án không thể thực hiện đồng bộ, hiệu quả chưa cao.  Nhiều hộ gia đình còn thiếu nhà ở, đất ở, đất sản xuất, một số hộ vay vốn làm ăn nhưng không hiệu quả, không có khả năng thanh toán, lâm vào cảnh nợ nần, đời sống nhiều hộ dân tộc trong vùng còn gặp khó khăn.
 Do đặc điểm của dân tộc gắn liền với tôn giáo nên các hộ thường sống quần tụ quanh chùa chiền nên ở một số nơi cũng gặp khó khi bố trí tái định cư; tập quán chăn nuôi gia súc hộ gia đình nên có nơi ảnh hưởng đến môi trường sống của hộ dân.  Về nguồn vốn vay hỗ trợ phát triển. Vẫn còn nhiều hộ chưa tiếp cận được vốn vay, nếu có vay thì mức vay không đủ theo nhu cầu để sản xuất, nhiều hộ cần vốn nhưng vẫn không có phương án làm ăn rõ rệt, một số hộ dân trình độ văn hóa thấp, ngôn ngữ bất đồng, chưa hiểu hết nội dung của các cuộc tuyên truyền nên còn tâm lý trông chờ, ỷ lại, nhận thức vốn vay của Ngân hàng chính sách xã hội là vốn của Nhà nước cho không. Chính quyền địa phương chưa gắn kết được việc đào tạo nghề với vay vốn để giúp hộ vay biết cách thức làm ăn, sử dụng vốn vay hiệu quả, có tích lũy thu nhập ổn định cuộc sống.  Khoảng cách mức sống giữa vùng dân tộc với cộng đồng các dân tộc khác vẫn còn chênh lệch, một bộ phận người dân tộc còn trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, chưa có ý chí tự vươn lên thoát nghèo. Việc đào tạo nghề hiệu quả còn thấp, chưa đào tạo được lực lượng lao động có tay nghề cao đáp ứng tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đa số chỉ được đào tạo lao động phổ thông.
Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị chưa đảm bảo số lượng và chất lượng. Việc xây dựng các tổ chức trong hệ thống chính trị, công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ người dân tộc có nơi chưa được quan tâm đúng mức. Tỷ lệ người dân tộc tham gia vào cấp ủy, cơ quan nhà nước, ban, ngành, đoàn thể các cấp chưa tương xứng. Công tác phát triển đảng viên trong lực lượng cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc còn ít.
Từ những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế tồn tại trong thời gian qua, có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, nơi nào cấp ủy, chính quyền quán triệt tốt chính sách dân tộc, gần gũi dân, tôn trọng dân, quan tâm tập trung cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thì nơi đó thực hiện tốt công tác dân tộc, tạo được sự đồng thuận cao, quần chúng nhân dân sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ, đóng góp sức người, sức của vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước; người dân tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, phấn đấu làm ăn, vươn lên thoát nghèo, cuộc sống được ấm no hạnh phúc, thông qua đó, an ninh chính trị, trật tự - xã hội cũng được giữ vững.
Hai là, phát huy tốt vai trò của các vị chức sắc, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, xác định đây là lực lượng tiêu biểu nồng cốt luôn được đồng bào dân tộc thiểu số nghe theo. Thực hiện tốt công tác dân vận, thường xuyên đi sâu tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào.
Ba là, công tác quản lý dân tộc về tổ chức triển khai chính sách dân tộc cần được triển khai đồng bộ, xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, phân bổ nguồn vốn kịp thời gian, tránh tình trạng nguồn vốn phân bổ chậm, ảnh hưởng tiến độ, chất lượng triển khai của các địa phương do quá khẩn trương, gấp rút thực hiện các chính sách cho kịp thời hạn.
Bốn là, quan tâm thực hiện tốt công tác đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số ở các cấp. Cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số ngoài kiến thức về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đòi hỏi có thêm những kiến thức về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tâm lý dân tộc, tôn giáo thì dễ tiếp cận, nắm bắt tâm tư tình cảm của đồng bào dân tộc hơn. Tỉnh An Giang trong thời gian qua đã có nhiều chính sách tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số thông qua các Trường phổ thông dân tộc nội trú. Đây cũng là nguồn dự bị cho công tác quy hoạch về lâu về dài của tỉnh.
Năm là, tập trung nguồn lực cho vùng dân tộc thiểu số, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí gắn với đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số.
 Sau là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ở các vùng dân tộc ngày càng vững mạnh, nắm bắt mọi diễn biến, tình hình, kịp thời phát hiện ngăn chặn và chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, ý thức chấp hành pháp luật, phát huy dân chủ cơ sở, không để xảy ra điểm nóng về an ninh trật tự ở vùng dân tộc.
 Tóm lại, thực hiện chính sách dân tộc là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là nhiệm vụ chính trị trọng tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị. Chính vì vậy, thực tiễn và những bài học kinh nghiệm thực hiện chính sách dân tộc sẽ giúp cho các địa phương nói chung, An Giang nói riêng cần quan tâm tốt hơn nữa đối với công tác dân tộc trong thời gian tới, kể cả những bài học thành công và chưa thành công. Thực hiện tốt chính sách dân tộc chính là tạo thêm cơ sở, tiền đề, động lực để nhằm ổn định và phát triển bền vững đất nước trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Ban Dân tộc tỉnh An Giang: Báo cáo tham luận Số: 35/BC-BDT về đánh giá hiệu quả trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh ngày 20 tháng 6 năm 2014;
- Ban Dân tộc tỉnh An Giang: Báo cáo 70 năm cơ quan công tác dân tộc ban hành ngày 26 tháng 4 năm 2016;
- Ban Dân tộc tỉnh An Giang: Báo cáo tổng kết công tác dân tộc tỉnh An Giang năm2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016.

Ths. Phan Thị Tuyết Minh - Khoa NN và PL

Responsive image
 

 

các tin khác