Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Lưỡng Viện trong Quốc Hội Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ

08:00 22/06/2017

     Trong hệ thống chính trị của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Mỹ), Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhánh quyền lực lập pháp. Với thẩm quyền của mình, Quốc hội có sự tác động rất lớn đến đời sống chính trị nói riêng, mọi mặt của Hoa Kỳ nói chung. Trong mọi quan hệ đối ngoại với Hoa kỳ, am hiểu chức năng, tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Quốc hội nước này là đòi hỏi trước tiên.
    

     Quốc hội Hoa Kỳ ra đời từ quy định của Hiến pháp nước này. Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhánh lập pháp trong hệ thống chính trị được tổ chức theo mô hình tam quyền phân lập. Quốc hội Hoa Kỳ không tự giải tán và cũng không ai giải tán được Quốc hội kể cả khi Quốc hội có sự bất đồng nghiêm trọng với nhánh hành pháp. Về tổ chức, Quốc hội Hoa Kỳ được kết cấu theo chế độ lưỡng viện với Thượng viện và Hạ viện. Trong suy nghĩ giản đơn của không ít người, Hạ viện “thấp” hơn, ít có quyền lực và vai trò hơn. Điều này hoàn toàn không đúng. Nhìn chung, cả hai viện đều có quyền lực ngang nhau. Trừ một số ít quyền hành dành riêng cho mỗi viện thì sự khác nhau giữa hai viện chủ yếu ở chế độ đại diện.
    

     Thượng viện Hoa Kỳ đại diện cho các bang với 100 thành viên do mỗi bang (không phân biệt lớn nhỏ) cử hai đại diện từ khi ra đời Hiến pháp cho đến tận năm 1913. Sai đợt sửa đổi Hiến pháp lần thứ 17, các thượng nghị sĩ không còn do cơ quan lập pháp mỗi bang cử ra nữa mà do dân bầu. Bất kể dân cư mỗi bang khác nhau thì số thượng nghị sĩ bầu ra từ mỗi bang cũng chỉ là 2 người. Thời hạn phục vụ (theo cách gọi quen thuộc ở nước ta là nhiệm kỳ) là 6 năm. Đó là “nhiệm kỳ” của mỗi thượng nghị sĩ, còn Thượng viện thì không có “nhiệm kỳ” như vậy mà là cơ quan có tính liên tục vì 1/3 số thượng nghị sĩ sẽ được bầu lại cứ hai năm một lần. So với Hạ viện, Thượng viện có quy mô nhỏ hơn với số thành viên ít hơn. Cơ quan này cũng có quy chế làm việc lỏng lẻo và tự do hơn Hạ viện. Phó Tổng thống Hoa Kỳ là người đứng đầu Thượng viện song lại không thường xuyên có mặt và cũng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu hai bên ủng hộ và chống ngang nhau. Một chức danh khác tồn tại ngay bên cạnh Chủ tịch Thượng viện là Chủ tịch lâm thời. Nắm cương vị này là người có thâm niên phục vụ lâu năm nhất của đảng đang nắm đa số ở Thượng viện. Cả Chủ tịch và Chủ tịch lâm thời trong thực tế chỉ đóng vai trò điều hành các phiên làm việc. Quyền lực với sức ảnh hưởng chi phối lớn nằm trong tay các thượng nghị sĩ có uy tín và thâm niên.
    

     Hạ viện có quy mô lớn hơn nhiều so với Thượng viện bởi số lượng thành viên đông hơn. Nếu như thượng nghị sĩ là được phân bổ theo chỉ tiêu “cứng” ở mỗi bang, bất kể bang lớn hay nhỏ, thì hạ nghị sĩ đại diện cho mỗi bang được phân chia tỉ lệ theo số dân. Bang nào có dân số đông thì số hạ nghị sĩ được bầu nhiều hơn. Chính vì chia tỉ lệ theo dân số nên số đại biểu hạ nghị sĩ của mỗi bang sẽ được điều chỉnh sau mỗi lần điều tra dân số. Trước tình hình dân số cả nước ngày càng tăng khiến cho số hạ nghị sĩ ngày càng đông tạo ra sự chênh lệch quá lớn giữa Thượng viện và Hạ viện thì năm 1929 ra đời điều luật quy định số đại biểu của Hạ viện là 435 người. Trong số lượng 435 này, một hệ thống điều chỉnh tỉ lệ của các bang được thành lập sau mỗi lần điều tra dân số bằng cách chia lại các khu vực bầu cử. Các hạ nghị sĩ sau mỗi hai năm lại phải tái tranh cử một lần.
    

     Nếu phải so sánh thì trên tổng thể quyền lực của Thượng viện và Hạ viện là ngang nhau. Tuy nhiên, xét trên một số khía cạnh cụ thể thì mỗi viện có những ưu thế hơn khác nhau. Ở góc độ cá nhân, các thượng nghị sĩ có uy tín, tầm ảnh hưởng và sức thu hút hơn so với hạ nghị sĩ. Lịch sử Quốc hội Hoa Kỳ cho thấy từ trước đến nay chỉ có các hạ nghị sĩ tự từ chức để ứng cử vào Thượng viện chứ chưa có điều ngược lại. Ở góc độ quyền lực tổ chức thì Hạ viện có những mặt ưu thế. Hiến pháp quy định đây là nơi đưa ra mọi dự luật liên quan đến thu chi ngân sách. Hạ viện là nơi xuất phát của mọi dự luật về thuế và các dự luật liên quan đến an sinh xã hội. Với ưu thế là nơi đầu tiên có quyền đưa ra các dự luật về vấn đề này, Hạ viện tạo được các điều khoản pháp lý bao gồm cả những giới hạn mà Thượng viện khó có thể vượt qua nếu như muốn thông qua dự luật đó. Trên lý thuyết thì Thượng viện có quyền sửa đổi các dự luật do Hạ viện đưa ra nhưng trong thực tế thì rất khó. Mặt khác, chính vì có số lượng thành viên đông hơn nhiều so với Thượng viện nên công việc của Hạ viện có sự chia sẽ tốt hơn. Hạ viện cũng hình thành được đội ngũ chuyên gia mà Thượng viện không có. Hạ viện có xu hướng tổ chức chặt chẽ hơn Thượng viện. Để đi đến sự nhất trí, Hạ viện có những quy định rất cụ thể. Tính đại diện của Hạ viện cũng sâu rộng hơn do có nhiều thành viên có thể đại diện cho các lợi ích đa dạng. Chủ tịch Hạ viện – người đứng đầu đảng chiếm đa số - là người có thế lực và sức ảnh hưởng lớn hơn so với Chủ tịch Thượng viện. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định, Chủ tịch Hạ viện là người kế tục chức vụ Tổng thống kế sau Phó Tổng thống. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định quyền hạn của Chủ tịch Hạ viện bao gồm:
 

     Một là, điều khiển các cuộc họp tại Hạ viện.
 

     Hai là, phân bổ các thành viên tham gia các ủy ban trong Hạ viện.
 

     Ba là, sắp xếp chương trình nghị sự.
 

     Bốn là, phân bổ các dự luật về các ủy ban liên quan.
 

     Theo quy định này, Chủ tịch Hạ viện có khá nhiều vũ khí để gây ảnh hưởng đến quá trình pháp lý. Mặt khác, trong cương vị người đứng đầu, Chủ tịch Hạ viện có thể giúp đỡ bạn bè và những người trong đảng của mình bằng cách đặt họ vào những vị trí thuận lợi. Các ứng viên tổng thống muốn thuận lợi trong tranh cử thì sự ủng hộ của Chủ tịch Hạ viện có ý nghĩa rất quan trọng. Bằng thẩm quyền của mình, Chủ tịch Hạ viện có thể tạo cơ hội cho thành viên thông qua các dự án của Hạ viện để tiếp cận cơ quan hành pháp. Trong cương vị người đứng đầu Hạ viện và đứng đầu đảng chiếm đa số trong Hạ viện, Chủ tịch Hạ viện rất có vai trò trong việc thúc đẩy hoặc loại bỏ một số dự luật.
 

     Chế độ lưỡng viện của Quốc hội Hoa kỳ về thực chất có cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động được xây dựng trên cơ sở đảng phái. Vai trò chi phối của đảng đối với đảng viên ở Hoa Kỳ không mạnh như ở các nước khác nhưng các đảng chính trị vẫn thể hiện rõ sự ảnh hưởng của mình đến Quốc hội. Xét cho cùng, Quốc hội là nơi mà các đảng chính trị đấu tranh với nhau để trước hết nắm quyền lực nhánh hành pháp và thông qua đó tạo sức ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực.
-------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Đào Huy Ngọc (1994), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Đỗ Lộc Diệp (1999), Hoa Kỳ – Tiến trình văn hóa chính trị, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Học viện Quan hệ quốc tế (1993), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Hà Nội.
4. Howard Cincotta (2000), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ths Đỗ Thanh Nhàn - Khoa Nhà nước và Pháp Luật

Responsive image
 

 

các tin khác