Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Quan niệm về đạo đức, nhân sinh trong tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh

10:22 10/05/2017

Nguyễn An Ninh, tên thật là Nguyễn An Ninh, sinh ngày 15/09/1900 tại quê ngoại - làng Long Thượng, tổng Phước Điền Thượng, tỉnh Chợ Lớn . Họ tộc của Nguyễn An Ninh thuộc dòng họ Đoàn, dòng họ nhiều đời là những người yêu nước, những người hết lòng vì lợi ích chung của dân tộc, là cháu bốn đời với nữ văn sĩ Đoàn Thị Điểm. Thân phụ Nguyễn An Ninh là Nguyễn An Khương (1860 - 1931) quê ở Tân An (Long An), là nhà nho yêu nước, nhiệt thành với nhiều phong trào cách mạng. Ông đã cùng với vợ là bà Trương Thị Ngự (mẹ của Nguyễn An Ninh) và chị gái là bà Nguyễn Thị Xuyên mở ra khách sạn Chiêu Nam Lầu   là nơi hoạt động, liên lạc của cách mạng Việt Nam. Ông tham gia phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo, hỗ trợ tài chính cho phong trào Đông Kinh nghĩa thục của Phan Châu Trinh, cùng Trần Chánh Chiếu (1869 - 1919), Nguyễn Thần Hiến (1857 - 1914) lãnh đạo phong trào yêu nước Minh Tân.

 

     Từ nhỏ Nguyễn An Ninh sống với gia đình bên ngoại, được dạy dỗ rất chu đáo. Năm mười tuổi ông lên Sài Gòn ở với ba mẹ tại Chiêu Nam Lầu – Sài Gòn, học tiểu học tại trường Dòng Taberd – Sài Gòn ông được dạy văn hóa Pháp, tiếng Pháp. Học cấp trung học tại trường Chasseloup Laubat, Nguyễn An Ninh là một trong những học sinh giỏi được trường vinh danh. Năm 1916, ông tốt nghiệp trung học loại ưu (bằng Brevet élémentaire) và được tuyển thẳng vào trường Cao đẳng Hà Nội, học chuyên ngành Luật và cai trị. Nhận thức được chính sách giáo dục nhồi sọ, đào tạo lớp người làm tay sai của Pháp, học được một năm thì ông nghỉ vì cho rằng: Học ra trường cuối cùng cũng chỉ để phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp, ông nói “Học Tây trong nước ta bây giờ là chỉ học để làm nô lệ cho nhà nước. Tại Đông Dương này tuổi trẻ An Nam khó mà tìm ra cái cao thượng của Âu Tây lắm” . Chứng kiến nỗi thống khổ của dân tộc thuộc địa bị tước đoạt tất cả những quyền cơ bản, ông muốn tìm hiểu về pháp luật của chính đất nước sinh ra luật lệ cai trị nước thuộc địa nhưng do thân phụ từng tham gia phong trào Đông Du nên ông không thể du học theo con đường chính thức. Do vậy, năm 1918, ông bí mật sang Pháp và thi đậu hạng ưu vào học trường Đại học Sorbonne -  Paris, ông theo học ngành luật tại trường đại học Sorbonne ở Paris. Ông được mọi người yêu mến vì học giỏi, chăm chỉ với tài nói và viết tiếng Pháp tốt ông đi làm thêm và viết bài cộng tác với báo để mở rộng các mối quan hệ và tìm hiểu sâu hơn về văn hóa Pháp. Nhờ chăm chỉ học, chỉ trong vòng hai năm (năm 1920) ông tốt nghiệp cử nhân luật của trường đại học Sorbone.

 

     Trong thời gian học tập ông đã kết thân với các nhà tri thức yêu nước Việt Nam tại Pháp như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc, được gọi là nhóm “Ngũ Long”. Đây chính là những đồng chí có ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của ông sau này. Trong quá trình đó, ông chịu  ảnh hưởng những nội dung tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh và nhận thức đúng đắn hơn về con đường cách mạng của dân tộc.

 

     Trong thời gian hoạt động ở Pháp đã hình thành những tư tưởng triết học của mình.  Trong tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh, vấn đề con người chiếm vị trí, vai trò quan trọng. Ông đặc biệt quan tâm đến vị trí, vai trò của con người và đề cao quyền tự do, dân chủ của con người trong xã hội. Ông quan tâm đến việc xây dựng nền tảng văn hóa, những giá trị đạo đức nhân sinh mới để từ đó hình thành con người mới trong xã hội mới.

 

     Có thể khẳng định rằng , vấn đề con người hay về đạo đức, nhân sinh về con người thì Nguyễn An Ninh chưa có hệ thống quan điểm đồ sộ, nhưng ông có những tư tưởng khá mới mẻ.

 

     Trong tư tưởng về đạo đức, Nguyễn An Ninh chưa đưa ra định nghĩa cụ thể nhưng ông đã có những quan niệm cơ bản và hết sức dễ hiểu. Theo ông, đạo đức là luân lý, là trật tự xã hội, ở phạm vi nhỏ là gia đình và lớn hơn nữa là xã hội. Nguyễn An Ninh viết rằng: ““Luân lý” hai chữ mà người dân An Nam đã dịch ra tiếng Pháp là “morale”(đạo đức) trong đó bao hàm “điều thiện và điều ác”, trong khi “luân lý” đơn giản chỉ có nghĩa là trật tự” . Theo ông bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào cũng có ba lĩnh vực quan trọng để thiết lập một nền tảng vững chắc cho sự phát triển của dân tộc ấy, đó là đất đai (quốc gia), gia đình, sự thờ cúng người đã chết. Trong đó, cần phải thực hiện tốt những quan hệ làng xã, giống nòi để giữ đất đai của Tổ quốc, giữ gia pháp trong gia đình, giữ mối quan hệ con người trong quá khứ với con người hiện  tại và con người trong tương lai. Theo Nguyễn An Ninh, đạo đức cũng chính là giải quyết tốt quan hệ đất đai – gia đình – người đã mất, ông cho rằng, người chết có tác động rất lớn đối với người đang sống, đó là chỉ lối đi cho con người, cho dân tộc, khắc phục nhược điểm của tiền nhân, giữ gìn nòi giống, ông viết: “Mỗi người trong số những người không tên tuổi ấy chăm lo cho các thế hệ con cháu hiện tại của họ biết ăn ở cư xử đúng với đạo làm người” . Như vậy, đạo đức mà Nguyễn An Ninh quan niệm là đạo đức nghiêng về xã hội, nhằm thiết lập một trật tự xã hội ổn định, duy trì được giống nòi của dân tộc.

 

     Về vai trò của đạo đức, Nguyễn An Ninh cho rằng, đạo đức – luân lý chính là để quy định sự giao tiếp, ứng xử giữa người với người trong xã hội, ông viết: “Vì vậy cho nên luân lý, là để định sự giao tế của con người” . Theo Nguyễn An Ninh, thực hiện được chuẩn mực căn bản của đạo đức sẽ tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong gia đình, trong xã hội và như vậy xã hội sẽ ổn định trật tự, ngược lại xã hội sẽ hỗn loạn, mất trật tự. Theo Nguyễn An Ninh con người cần phải tuân theo những kỷ luật chung, như thế mới thoát khỏi được tình trạng hỗn loạn, mới bảo đảm trật tự xã hội ổn định: “Những thế hệ sau này phải có một kỷ luật tinh thần chung. Chúng ta phải thoát ra khỏi tình trạng hỗn loạn. Chúng ta phải tìm lại sự trật tự” . Thực hiện tốt đạo đức chính là con người tìm lại được phẩm giá của mình trong sự quy định của xã hội. Theo ông, “phẩm chất cao quý của con người” đó là tự do, tự do tuyệt đối, làm chủ cá nhân, làm chủ xã hội, yêu quý giống nòi. Thực hiện đạo đức tốt cũng chính là tạo ra sức mạnh nơi con người, theo Nguyễn An Ninh sức mạnh của con người bắt đầu từ việc nhận thức ra phẩm giá của mình, ông viết: “… trong bất luận hoàn cảnh nào, chúng ta cũng sẽ chỉ có thể dựa vào bản thân mình để vươn lên trình độ mà con người ý thức được sức mạnh của mình” . Như vậy, theo Nguyễn An Ninh đạo đức có vai trò là điều chỉnh quan hệ xã hội, là giữ gìn xã hội theo trật tự chung, làm cho con người tăng thêm sức mạnh của chính bản thân.

 

     Về chuẩn mực đạo đức, theo Nguyễn An Ninh có nhiều chuẩn mực, trong đó chuẩn mực căn bản của đạo đức, đó là sự công bằng, lòng yêu thương giữa người với người. Trong tuồng hát Hai Bà Trưng, khi nói về chuẩn mực đạo đức phổ biến, ông quan niệm: “Công bình, tương ái là cái đạo đời đời của nhơn loại” .  Nguyễn An Ninh còn quan niệm đạo đức là sống theo thiện hay ác, tốt hay xấu, phải hay trái, tuy nhiên vấn đề quan trọng hơn là nhận thức được như thế nào là thiện hay ác, tốt hay xấu, phải hay trái. Theo ông, những phạm trù thiện – ác của đạo đức không tách rời nhau mà chúng tồn tại biện chứng với nhau, cái này bên cạnh cái kia, cùng vận động và phát triển. Nguyễn An Ninh cho rằng: “… trong cuộc sống, điều ác cần đến điều thiện và điều thiện cần có điều ác, hỗn loạn đòi hỏi sự thống nhất và một thể thống nhất lại cần có sự hỗn loạn bên trong thì mới tránh được sự kết tinh, tức là hủy diệt” . Vì thế, trong cuộc sống, cái thiện và cái ác luôn tồn tại, chúng tạo nên sự tương quan trong nguyên tắc xử sự mà quan trọng nhất mọi người cần nhận thức đúng đắn để lựa chọn thiện hay ác. Cho nên, có thể nói ông là người ít bàn đến những tín điều đạo đức mà ông luôn coi trọng thực tiễn đạo đức, ông viết: “Sống làm người chỉ có hai cửa mà thôi: phải hay quấy. Mà thế nào cũng phải theo việc phải cho đến cùng, không thể nào theo việc quấy được”. Để phân biệt thế nào là hành vi đạo đức, ông chỉ rõ như sau: “Hễ sự nào lợi cho mình là phải, bất lợi cho mình hay là ngăn cản mình, làm cho mình mất một điều lợi mà mình có thể có được, là quấy”. Như vậy, trong quan niệm đạo đức, Nguyễn An Ninh cũng dựa trên quan điểm duy vật, coi lợi ích là vấn đề chi phối, quyết định đến đạo đức. Bên cạnh những chuẩn mực đạo đức đó, Nguyễn An Ninh còn cho rằng, chuẩn mực đạo đức cao nhất là con người biết thương mình rồi mới thương người. Nguyễn An Ninh quan niệm rằng: “Cho nên trong nhơn loại là làm cho được hai điều ấy, mưu cho được hạnh phúc của cá nhơn và hạnh phúc của cả nhơn loại còn đang tấn hóa kia, ấy là đạt đến cực điểm của đạo đức”. Trong quyển sách Tôn giáo, Nguyễn An Ninh phê phán tôn giáo rằng, phải quên mình đi vì người khác đó là sai lầm, là mắc bệnh “đau thần kinh hệ”, mà trước hết thương mình, biết lo cho mình tốt là điều kiện lo cho người khác, thương người khác. Nguyễn An Ninh phê phán: “Tôn giáo kia buộc quên mình mà làm phải cho người, vì tội lỗi đâu đâu đời nào không biết, buộc phải hành xác thịt, càng mau chết càng vui, buộc như thế ấy, chỉ có một hạng người rất ít làm theo được mà thôi”.

 

     Về rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, theo Nguyễn An Ninh đó là công việc hết sức khó khăn và lâu dài. Ông cho rằng, muốn hình thành đạo đức, nhân cách phải bắt đầu từ trong cuộc sống, đó là sự đấu tranh chống cái xấu, cái ác, cái tà, chống áp bức, bóc lột của thực dân. Nguyễn An Ninh viết: “…muốn hình thành một nhân cách, trước tiên là ta phải biết cách sống. Mà sống là phải tranh đấu, là đương đầu, là cảnh giác” . Muốn có đạo đức, con người cần phải vươn lên, có trí tuệ, có trình độ cao từ đó mới làm chủ tâm hồn, mới nhìn nhận được tình cảm, giá trị đạo đức, ông viết: “Chúng ta cần một đỉnh cao, để từ đó định tâm lại, chúng ta sẽ lường hết được sức mạnh của mình và làm chủ tâm hồn mình, từ đó mới nhìn tổng quát được thế giới xung quanh sống động và chứa chan tình yêu thương, mới hòa hợp được với thế giới”. Trong cuộc sống cần phải hướng về cội nguồn, biết giữ gìn, phát huy những giá trị của tiền nhân, đồng thời cũng tránh được những vấp váp mà tiền nhân đã cảnh báo. Theo ông, cần phải khôi phục những đạo lý truyền thống của tổ tiên, ông viết: “Thì ngày ấy chúng ta có thể cùng nhau xem xét những ước mơ cao đẹp nhất của chúng ta. Ngày ấy chúng ta có thể giải bài toán khó về tạo lập một nền văn hóa cho dân tộc chúng ta, và một lần nữa chúng ta khôi phục đạo lý của tổ tiên chúng ta: “Hãy tôn sùng những ai đã dùng tài năng hay thiên phú của mình mà nâng vị trí của dân tộc ta trên thế giới, và những ai đã đóng góp vào việc cải thiện điều kiện sống cho dân tộc chúng ta”. Nguyễn An Ninh rất tích cực phê phán mặt tiêu cực các tôn giáo, nhưng đối với đạo thờ tổ tiên thì ông rất ủng hộ, theo ông, cha mẹ thực hiện tốt đạo thờ tổ tiên là sự giáo dục con cái rất tốt về cội nguồn, về giá trị đạo đức, nhân cách, ông viết: “Thờ ông bà là cái tính quý báu vô cùng của cha mẹ đối với con”. Đặc biệt, trong gia đình, Nguyễn An Ninh rất quan tâm đến vấn đề phụ nữ, theo ông phụ nữ là gốc của gia đình, do phụ nữ sắp xếp mà gia đình có hạnh phúc. Đức tính quan trọng nhất của gia đình là đức tính hy sinh vì chồng , vì con, vì gia đình, Nguyễn An Ninh viết: “Một gia đình tốt đẹp là nhờ cái tánh hy sinh của người đàn bà đem cả tâm trí mình mà sống vì chồng, vì con”. Nguyễn An Ninh cũng phê bình những phụ nữ ham mê phim ảnh với những thú vui từ hình ảnh nam nữ hôn hít, những cuộc tình ái, bán dâm, hay nhảy đầm mà quên đi việc nội trợ gia đình. Chính vì thế mà phụ nữ cần “phòng ngừa mà giữ cái phẩm giá và hết sức lo lắng mở mang sự sinh hoạt của mình là tốt”.

 

     Về triết lý nhân sinh Sống và Chết, Nguyễn An Ninh là con người có sự thống nhất cao giữa lẽ sống và ý nghĩa cái chết, ông đã sáng tác bài “Sống và chết” lưu truyền trong nhân dân Đức Hòa, Tân An. Trong bài thơ đã phán ánh đầy đủ triết lý về Sống và Chết của ông:

   

   “Sống mà vô dụng sống làm chi?

    Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?

    Sống trái đạo người, người thêm tủi,

    Sống quên ơn nước, nước càng khi.

    Sống tai như điếc, lòng thêm hổ,

    Sống mắt dường đui, dạ luống kỳ.

    Sống sao cho phải, cho nên sống,

    Sống để muôn đời, sử tạc ghi.

    Chết sao danh tiếng vẫn lưu hoài,

    Chết đáng là người đủ mắt tai.

    Chết được dựng hình, tên chẳng mục,

    Chết đưa vào sử, chữ không phai.

    Chết đó rõ ràng danh sống mãi,

    Chết đây chỉ chết cái hình hài.

    Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi,

    Chết cho hậu thế, đẹp tương lai” .

 

     Thông qua nội dung bài thơ, có thể thấy Nguyễn An Ninh có quan điểm về lẽ sống là dấn thân cống hiến cho dân tộc, cho sự sinh tồn đất nước, sống theo đúng đạo lý, làm người có lương tri, có phẩm hạnh cao quý. Cái chết chỉ có ý nghĩa khi vì lợi ích của Tổ quốc, vì cuộc đời, vì tương lai của giống nòi.

Tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh xuất phát từ hiện thực xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, giải quyết những vấn đề đạo đức, nhân sinh xã hội trong giai đoạn này đó là tìm ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Để xây dựng một đất nước phát triển thì con người phải bắt đầu từ con người -  con người có tri thức, biết sáng tạo, có tâm hồn, biết trân trọng giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và trên hết là có trách nhiệm làm sống lại tinh thần dân tộc

 

     Như vậy có thể thấy việc quan tâm sâu sắc về đại đức, nhân sinh trong tư tưởng triết học của Nguyễn An Ninh không chỉ có giá trị góp phần giải quyết yêu cầu lịch sử xã hội trong giai đoạn đầu thế kỷ XX mà còn có ý nghĩa lịch sử trong quá trình xây dựng và phát triển nước ta hiện nay. Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Đảng không có một mục đích nào khác là đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân./.

-----------------------------------------

* Tài liệu tham khảo:

1. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.570

2. Trần Văn Giàu (1988), Triết học và tư tưởng, Nxb. TP.HCM, tr.83

3. Đinh Xuân Lâm (chủ biên) (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb. Giáo dục, tr.76

4. Mai Quốc Liên, Nguyễn Sơn (2012), Nguyễn An Ninh – tác phẩm, Nxb. Văn học, TP Hồ Chí Minh, tr.99

 

ThS. Phạm Văn Sơn - Khoa LL MLN, TT HCM

Responsive image
 

 

các tin khác