Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Quá trình lịch sử và nguyên tắc nền tảng của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

04:04 19/04/2017

  Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (United States of America) là tên đầy đủ của quốc gia mà chúng ta gọi một cách ngắn gọn và quen thuộc bằng từ dịch theo nghĩa Hán – Việt là “Đẹp” – Mỹ. Quốc gia lớn thứ 3 về tổng diện tích được thành lập sau thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng, chính thức vào ngày 4 tháng 7 năm 1776 – thời điểm Tuyên ngôn độc lập được chính thức thông qua. Tuy nhiên, hơn một thập niên sau, năm 1787, nước Mỹ mới định hình chính thức là một liên bang với việc 13 bang đầu tiên thỏa thuận thông qua Hiến pháp. Bản Hiến pháp này rất ngắn gọn, lúc đầu chỉ bao gồm có bảy điều khoản là những quy định chung nhất về việc thành lập cũng như chức năng và quyền hạn của các cơ quan thuộc nhà nước liên bang. Đến nay, Hiến pháp này cơ bản giữ nguyên giá trị, tồn tại với sự bổ sung và sửa đổi thêm 26 điều khoản.

 

     Không khó để lý giải nguyên nhân tại sao một văn bản có giá trị pháp lý nền tảng như Hiến pháp lại ra đời trễ hơn một thập niên so với việc khai sinh nền độc lập quốc gia và chế độ chính trị trong trường hợp nước Mỹ. Sauk hi giành độc lập từ tay thực dân Anh (1776), các bang ở Mỹ đã thống nhất thành lập chính quyền chung theo chế độ hợp bang với quyền lực chủ yếu vẫn nằm trong tay các bang. Quốc hội – cơ quan duy nhất của chính quyền hợp bang – có quyền lực hết sức hạn chế, không có quyền điều hành bằng luật pháp quan hệ thương mại cũng như đề ra các mức thuế quan, không có quyền định và thu thuế. Điều này khiến cho chính quyền hợp bang lâm vào thế bị động, phụ thuộc rất lớn vào đóng góp mang tính tự nguyện của các bang. Những hạn chế về đối ngoại cũng bộc lộ khi mà chính quyền hợp bang không có cơ quan hành pháp. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có một văn bản pháp lý với những nội dung quy định nâng cao thẩm quyền, vị thế của chính quyền hợp bang.

 

     Từ nhu cầu đến ban hành hiến pháp là một quá trình thảo luận lâu dài, hơn nữa là đấu tranh giữa các trường phái tư tưởng đại diện cho những lợi ích khác nhau, giữa những người chủ trương xây dựng một chính quyền trung ương mạnh và những người ủng hộ việc duy trì chế độ quyền hành nằm chủ yếu trong tay các bang; giữa quyền đại diện của các bang lớn và các bang nhỏ; giữa lợi ích nông nghiệp và công nghiệp;… Mặc dù vậy, với mong muốn xây dựng một chính quyền trung ương mạnh hơn để điều hành và bảo đảm sự tồn tại của nước Mỹ trước những đe dọa từ bên ngoài, các ý kiến đã thể hiện sự nhân nhượng trong mức độ hợp lý. Bất cứ hình thức tập trung quyền hành dù ở trong tay quốc hội hay tổng thống đều được chú ý tránh. Đó là cơ sở để hình thành nên ba nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:

 

     Một là, chế độ liên bang.

 

    Thực chất của nguyên tắc chế độ liên bang là việc phân chia quyền lực ở hai cấp bậc: Liên bang và mỗi bang. Nguồn gốc lịch sử – thực tế của nguyên tắc này là kết quả của sự thỏa hiệp giữa một bên là những người mong muốn xây dựng một chính quyền trung ương mạnh với một bên muốn quyền lực chủ yếu nằm trong tay các bang. Việc quy định quyền lực được chia sẽ giữa hai cấp liên bang và các bang giải quyết được mối lo ngại của những người không muốn thấy  quyền lực tập trung quá nhiều trong tay chính phủ liên bang. Khi quyền lực được chia sẽ, không một cấp chính quyền nào lại chịu để quyền hành của mình rơi vào tay phía bên kia, hay nói cách khác, ai cũng tìm mọi cách bảo vệ quyền mà mình được giao phó.

 

     Hiến pháp Mỹ không dành hẳn một điều, chương nào cụ thể để quy định rõ ràng về việc phân chia quyền lực giữa trung ương và các bang, mà thể hiện bằng nhiều cách. Ba điều khoản đầu tiên của Hiến pháp chỉ trao và liệt kê những quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của ba cơ quan chính quyền liên bang. Điều đó cũng ngầm hiểu là những quyền không nêu trong liệt kê đó được dành cho chính quyền các bang. Sau này, hàm ý đó được quy định trong điều khoản sửa đổi thứ mười với việc nêu rõ tất cả mọi quyền hạn không được hiến pháp trao cho Nhà nước Mỹ đều thuộc về các bang. Sự gia tăng quyền lực cho chính quyền liên bang tiếp tục được thực hiện trong quá trình sửa đổi hiến pháp sau đó. Đặc biệt, năm 1993, Điều khoản sửa đổi thứ 16 được thông qua cho phép Quốc hội Mỹ thu thuế thu nhập của các cá nhân với mục đích làm tăng them ngân sách liên bang, thông qua đó củng cố quyền lực của chính quyền liên bang.

 

     Hiện nay, về cơ bản các bang của Mỹ giữ những quyền chính thuộc về cảnh sát như giám sát việc thi hành luật hay chi phối những vấn đề thuộc luật hình sự và các dịch vụ công cộng bao gồm các lĩnh vực giáo dục, y tế, trợ giúp xã hội… Nhà nước liên bang chỉ đóng góp phần rất nhỏ trên các lĩnh vực này ở mỗi bang. Tuy nhiên, quá trình sửa đổi và bổ sung hiến pháp cho thấy tương đối rõ rệt con đường của sự gia tăng quyền lực trong tay chính quyền liên bang. Hiện nay, chính quyền liên bang không chỉ nắm giữ những quyền chủ yếu về quân sự và chính sách đối ngoại mà còn nắm ưu thế về tài chính thông qua khả năng phân bổ trợ giúp tài chính cho các bang.

 

     Hai là, phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.

 

     Cơ quan nhà nước của chính quyền liên bang bao gồm ba nhánh chính: Tổng thống, Quốc hội và Tòa án. Hiến pháp Mỹ quy định ba cơ quan này nắm giữ những quyền hành độc lập nhau, theo đó quyền hành pháp trong tay tổng thống, quyền lập pháp thuộc về quốc hội và quyền tư pháp là của Tòa án. Nguyên tắc này dẫn đến sự hình thành một hệ thống các cơ quan chính quyền được gọi một cách phổ biến và quen thuộc là tam quyền phân lập. Mục tiêu của việc thiết lập nguyên tắc này đó là nhằm phân chia quyền lực một cách hợp lý và độc lập giữa các ngành trong chính quyền. Đây là sự tiếp nối của việc phân chia quyền lực giữa chính quyền liên bang và chính quyền mỗi bang theo hướng ngăn chặn sự tập trung quyền lực quá lớn vào tay bất kỳ một cơ quan nào. Sự khác nhau giữa các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp không chỉ ở chức năng mà nó có được mà ở sự lựa chọn các hình thức bầu cử nhân sự khác nhau, thời gian phục vụ khác nhau, và điều xa hơn dẫn đến đó là mỗi cơ quan có xu hướng phục vụ lợi ích của mỗi nhóm cử tri khác nhau. Trong bản hiến pháp ban đầu, chỉ có hạ viện, với thời gian phục vụ 2 năm, là cơ quan duy nhất do dân bầu; người đứng đầu nhánh hành pháp – tổng thống – có nhiệm kỳ 4 năm được bầu gián tiếp bởi các cử tri đoàn được tạo nên từ kết quả đề cử ra của các cơ quan lập pháp ở mỗi bang; thượng viện có thời gian làm việc nhiều hơn tổng thống 2 năm cũng do cơ quan lập pháp các bang chọn lựa. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tổng thống và các đại biểu của thượng viện cũng vẫn do đại cử tri đoàn bầu ra nhưng điểm mới ở chỗ thay vì cơ quan lập pháp mỗi bang lựa chọn ra cử tri đoàn thì hiến pháp trao quyền đó cho dân chúng. Sự quy định các hình thức bầu cử khác nhau là phương thức tạo ra sự khác biệt độc lập về chức năng giữa các cơ quan trong bộ máy chính quyền liên bang.

 

     Ba là, kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các cơ quan.

 

     Cơ chế kiểm soát và cân bằng lẫn nhau được tạo nên bởi nhu cầu gắn kết các cơ quan trong bộ máy chính quyền liên bang trước đặc điểm mỗi nhánh hành pháp, tư pháp, lập pháp có tính độc lập cao. Hiến pháp Mỹ quy định mỗi cơ quan không chỉ có chức năng riêng mà trong một số trường hợp lại có những quyền thuộc lĩnh vực của các bộ phận khác. Nguyên tắc này được thiết lập chủ yếu hướng đến mối quan hệ giữa tổng thống và quốc hội. Tổng thống không chỉ có quyền hành pháp đơn thuần mà còn được trao một số quyền lập pháp, quan trọng nhất là quyền phủ quyết đối với các điều luật đã được quốc hội thông qua. Ở phía ngược lại, quốc hội cũng được hiến pháp trao một số quyền thuộc lĩnh vực hành pháp, như quyền có tiếng nói cuối cùng đối với những quyết định bổ nhiệm các quan chức chính phủ của tổng thống hay quyền có ý kiến và phê chuẩn các hiệp định thương mại mà chính phủ ký với các nước khác ngay trước khi nó có hiệu lực. Đối với cơ quan tư pháp, tòa án mặc dù không được hiến pháp quy định rõ vai trò kiểm tra giám sát đối với tổng thống và quốc hội, song kể từ năm 1803, Tòa án tối cao liên bang đã giành và khẳng định quyền phán quyết trong việc xem xét lại các hành động của quốc hội và tổng thống có đúng với hiến pháp hay không.

 

     Trên đây là những tổng hợp tài liệu cơ bản để khái lược những nét chính của quá trình lịch sử và các nguyên tắc nền tảng của Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Sự tìm hiểu các yếu tố này có ý nghĩa rất quan trọng để tìm hiểu nền chính trị – pháp lý Mỹ. Tiếp theo đó, những hiểu biết ấy sẽ là những đòi hỏi tất yếu cho quá trình thúc đẩy các hoạt động hợp tác và ngoại giao với cường quốc này dù ở mọi hình thức, cấp độ nào.

-------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đào Huy Ngọc (1994), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đỗ Lộc Diệp (1999), Hoa Kỳ – Tiến trình văn hóa chính trị, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Học viện Quan hệ quốc tế (1993), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Hà Nội.

4. Howard Cincotta (2000), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

Ths Đỗ Thanh Nhàn - Khoa Nhà nước – Pháp luật

các tin khác