Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Bình đẳng giới và mối quan hệ giữa bình đẳng giới với phát triển xã hội hiện nay

09:56 12/11/2018

     Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu của bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế, xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Hiện nay, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả đáng trân trọng về thúc đẩy bình đẳng giới, được đánh giá là một trong những quốc gia có khung pháp lý về bình đẳng giới khá tiến bộ, đồng thời, việc thực hiện bình đẳng giới trong thực tiễn cũng đạt được những kết quả tích cực. Bình đẳng giới và phát triển xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, bình đẳng giới góp phần tạo động lực phát triển xã hội, ngược lai, phát triển xã hội là điều kiện để thực hiện bình đẳng giới.
     * Quan niệm về bình đẳng giới và phát triển xã hội
    - Quan niệm về bình đẳng giới
     Bình đẳng giới không là vấn đề riêng của giới nữ, của một quốc gia, mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc. Cùng với các nước trên thế giới, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế, như Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW, năm 1981) và ký kết thực hiện 8 mục tiêu thiên niên kỷ, trong đó có mục tiêu thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới. 
     Quan niệm về bình đẳng giới hiện nay là sự tương đồng và có khác biệt của giới nam, giới nữ được thừa nhận và được coi trọng như nhau. Nam giới và nữ giới khác nhau bởi đặc điểm tự nhiên (đặc điểm giới tính), do tự nhiên quy định. Sự khác biệt này ổn định, thậm chí, hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và thời gian. Đồng thời, nam giới và nữ giới còn khác nhau bởi đặc điểm xã hội (đặc điểm giới), do xã hội tạo nên như địa vị xã hội, thái độ và hành vi ứng xử. Sự khác biệt này không bất biến mà thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa. Theo đó, chúng ta chỉ có thể khắc phục sự khác biệt giữa nam và nữ về đặc điểm giới (vị trí xã hội, hành vi ứng xử...), còn sự khác biệt về giới tính không thể (không nên) thay đổi. Thực chất bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội không bắt nguồn từ yếu tố tự nhiên mà bắt nguồn từ yếu tố xã hội, do vậy, muốn thực hiện bình đẳng giới đòi hỏi phải giải quyết bằng giải pháp về mặt xã hội.
     Bình đẳng giới là khái niệm biểu đạt sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có các cơ hội như nhau để phát hiện đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó cho sự phát triển của xã hội và được huởng lợi từ kết quả của sự phát triển đó. 
     Trong Luật Bình đẳng giới (2006) của Việt Nam khẳng định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [3].
     Như vậy, bình đẳng giới không có nghĩa là cần thực hiện một sự ngang nhau giữa nam giới và nữ giới theo phương châm: nam giới làm gì thì nữ giới cũng phải làm và ngược lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã phê phán gay gắt quan điểm này. Theo Người, bình đẳng nam nữ không có nghĩa là: “hôm nay anh nấu cơm, rửa bát quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to!”[2]. Bình đẳng giới phải là sự khắc phục tình trạng bất bình đẳng nhưng không dẫn tới sự triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa hai giới, hơn nữa còn tôn trọng những sự khác biệt đó. Để đạt được sự bình đẳng giới, phụ nữ phải được tạo điều kiện và cơ hội như nam giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. 
     - Quan niệm về phát triển xã hội 
     Phát triển xã hội là khái niệm chỉ sự vận động theo chiều hướng tiến lên, cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu về mặt xã hội (lĩnh vực xã hội theo nghĩa rộng). Thuật ngữ “phát triển xã hội” được thế giới quan tâm từ khoảng giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cụ thể từ sau Hội nghị thượng đỉnh phát triển xã hội (1995), và hội nghị Bắc Kinh (2000), nhất là sau khi có văn kiện Tầm nhìn thiên niên kỷ mới của Liên hiệp quốc (2001). Thuật ngữ này được cho là một phạm trù rộng với nhiều cách hiểu khác nhau.
     Hiện nay, khi bàn về khái niệm “phát triển xã hội” trong giới nghiên cứu Việt Nam có ba quan niệm khác nhau: thứ nhất, phát triển xã hội đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế và sự phát triển khoa học, công nghệ; thứ hai, phát triển xã hội là sự phát triển của cá nhân và tổ chức xã hội mà cá nhân đó đang sống; thứ ba, phát triển xã hội là sự phát triển tổng hợp đời sống vật chẩt và tinh thần của cá nhân và cộng đồng. Đa số ý kiến đồng ý với quan niệm thứ ba và cho rằng phát triển xã hội không chỉ thuần túy là sự phát triển của riêng lĩnh vực xã hội, mà là sự phát triển đồng thời của phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế, môi trường, an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế,...) nhằm bảo đảm cho con người được phát triển toàn diện và xã hội phát triển bền vững.
     * Mối quan hệ giữa bình đẳng giới với phát triển xã hội
     - Bình đẳng giới góp phần tạo động lực để phát triển xã hội
     Bình đẳng giới phản ánh sự bình đẳng về quyền con người không phân biệt nam hay nữ. Mỗi cá nhân được quyền sống theo sự lựa chọn của cá nhân mà không bị áp đặt hay tước đoạt một cách vô lý bởi người khác chính là một trong những quyền cơ bản của con người, thể hiện sự bình đẳng giữa người và người - đó là một trong những nội dung cơ bản trong Hiến chương về quyền con người.
     Bình đẳng giới có ý nghĩa như một phương tiện để phát triển vì bình đẳng giới càng cao thì hiệu quả kinh tế càng tăng và những mục tiêu phát triển quan trọng khác càng đạt được nhiều hơn. Bình đẳng giới có vai trò quan trọng như xóa bỏ những rào cản để phụ nữ được tiếp cận bình đẳng như nam giới về học hành, cơ hội kinh tế và đầu tư vào sản xuất, nhờ đó năng suất lao động sẽ có hiệu quả hơn, vị thế kinh tế của phụ nữ được nâng lên và có tính độc lập cao. 
     Nâng cao vị thế cho người phụ nữ sẽ có ảnh hưởng tích cực tới việc thực hiện mục tiêu phát triển trẻ em. Phụ nữ có học vấn, có nhận thức tốt sẽ biết chăm lo tốt nhất cho con cái về trí lực, thể lực, từ đó thế hệ công dân tương lai sẽ có chất lượng cao hơn. 
     Tạo sự bình đẳng cho nam giới và nữ giới có cơ hội như nhau trong các hoạt động xã hội, chính trị, ra quyết định, xây dựng chính sách, sẽ tạo ra một hệ thống luật pháp, chính sách nói riêng, các thể chế xã hội nói chung phản ánh đuợc quyền, lợi ích của cả nam, nữ một cách bình đẳng nhiều hơn. Bình đẳng giới góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh.
     Bình đẳng giới là khái niệm hàm chứa ý nghĩa xã hội to lớn. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “...Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau”.
     - Phát triển xã hội là điều kiện để thực hiện bình đẳng giới
     Phát triển xã hội theo nghĩa rộng là phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế… sẽ là nền tảng để thực hiện bình đẳng giới. 
     Phát triển xã hội sẽ tạo điều kiện về vật chất để thực hiện bỉnh đẳng giới. Cũng như các yếu tố khác thuộc kiến trúc thượng tầng, bình đẳng giới chỉ được giải quyết có hiệu quả khi có điều kiện về kinh tế, khi mỗi cá nhân, gia đình có được mức sống vật chất đảm bảo. 
     Phát triển xã hội sẽ tạo điều kiện, môi trường tinh thần lành mạnh, văn minh để thực hiện bình đẳng giới. Thực tế đã chứng minh, ở đâu có nền văn hóa tiến bộ, trình độ học vấn cao, có điều kiện tiếp thu tinh hoa văn hỏa thời đại, ở đó trình độ bình đẳng giới cao hơn và ngược lại. Trong môi trường xã hội, những tập tục, tâm lý, thói quen, những lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng cũng có sức mạnh ghê gớm kìm hãm mức độ bình đẳng giới. 
     Do vậy, phát triển xã hội theo hướng dân chủ, văn minh là điều kiện quan trọng để thực hiện bình đẳng giới; là giải pháp để xóa bỏ những nguồn gốc sinh ra bất bình đẳng giới, thực hiện bình đẳng giới bền vững.
     * Một số giải pháp chính thúc đẩy công tác bình đẳng giới góp phần phát triển kinh tế xã hội:
     Trong những năm qua, công tác bình đẳng giới ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ và được quốc tế đánh giá là một trong những nước thu hẹp khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua ở khu vực Đông - Nam Á, là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ và các cam kết quốc tế khác. Kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015 cho thấy về cơ bản các chỉ tiêu đề ra đã có chuyển biến theo hướng tích cực, trong đó phải kể đến các chỉ tiêu về tạo việc làm mới, giáo dục đào tạo, y tế... Vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam trong mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội đã được nâng lên. Trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội luôn ở mức cao trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp kể từ năm 1997 cho đến nay, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội đều đạt từ 24% trở lên (Khóa X năm 1997 - 2002 đạt 26,22% và Khóa XIII năm 2011-2016 đạt 24,4%). Khoảng cách chênh lệch về giới trong tiếp cận giáo dục hầu như không còn trong tất cả các bậc học, thậm chí trong một số ngành nghề tỷ lệ phụ nữ đạt được bằng đại học và cao đẳng  nhiều hơn nam giới. Tỷ lệ phụ nữ tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp đạt hơn 20%. Theo khảo sát tại mới đây trong năm 2015 của Tập đoàn Tài chính Quốc tế Master Card, Việt Nam đạt 66/100 điểm về chỉ số tiến bộ phụ nữ và xếp thứ 5/16 quốc gia được khảo sát tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương - đây là chỉ số đánh giá vị trí kinh tế - xã hội của phụ nữ với ba tiêu chí là việc làm, trình độ học vấn và khả năng lãnh đạo.
     Mặc dù đạt được những kết quả như trên nhưng hiện nay vẫn còn tồn tại những khó khăn, trở ngại trong việc duy trì thành tựu bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ. Theo các báo cáo hàng năm của Chính phủ trước Quốc hội về tình hình thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và qua rà soát, đánh giá việc thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực và phần lớn nghiêng về phía phụ nữ; đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.. Khoảng cách giới tồn tại trên hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt trong những lĩnh vực chủ chốt.
     Trong thời gian tới, cần thực hiện một số giải pháp chính thúc đẩy công tác bình đẳng giới góp phần phát triển kinh tế xã hội:
     Một là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ. Đưa các mục tiêu bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và từng thời kỳ ở cấp trung ương và địa phương. Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới hằng năm, giữa kỳ và cuối kỳ theo kế hoạch 5 năm của các cấp, các ngành. Hình thành cơ chế báo cáo, thông tin thường xuyên tới lãnh đạo các cấp về công tác bình đẳng giới. 
     Hai là, đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra các hoạt động và sản phẩm văn hoá, thông tin từ góc độ giới.
     Ba là, đa dạng hóa việc huy động nguồn lực từ Nhà nước, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và cộng đồng cho việc thực hiện Chương trình. Ưu tiên bố trí ngân sách và đảm bảo tính minh bạch trong huy động và sử dụng các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.  
     Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và liên ngành về việc thực hiện hoạt động bình đẳng giới, các trường hợp vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thanh tra chuyên ngành về bình đẳng giới từ trung ương đến địa phương.
Năm là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Tăng cường giao lưu chia sẻ kinh nghiệm, mở rộng hợp tác quốc tế; vận động và sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ.
     Như vậy, bình đẳng nam nữ - bình đẳng giới là vấn đề luôn được sự quan tâm của toàn nhân loại, là một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW). Do đó bình đẳng nam nữ trở thành một trong những tiêu chí đánh giá trình độ văn minh, tiến bộ của một quốc gia. Đó là lý tưởng mà nhân loại hướng tới, là cam kết chính trị của nhiều quốc gia và là một trong tám mục tiêu thiên niên kỷ (MDG), được Đại hội đồng Liên hợp quốc đề ra vào đầu thế kỷ XXI. Ở Việt Nam, sự nghiệp giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ đã được Đảng và Nhà nước mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm ngay ngày đầu cách mạng.
     Trong bối cảnh và tình hình mới, thế giới đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, nhưng vấn đề bình đẳng giới ở nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển vẫn chưa được giải quyết triệt để. Vai trò, vị thế của phụ nữ và nam giới trong xã hội, trong gia đình ở mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử còn nhiều khác biệt. Nữ giới vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới. Do đó, bình đẳng giới vẫn là yêu cầu bức thiết giúp đảm bảo sự phát triển công bằng, hiệu quả và bền vững của một xã hội.
 
Tài liệu tham khảo
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Khối kiến thức thứ tư, tập 14, Các chuyên đề bổ trợ (Dành cho học viện trung tâm), Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 342.
3. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bình đẳng giới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 2.
4. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 2351/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 -  2020, ngày 24 tháng 12 năm 2010.
5. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 1696/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 - 2020, ngày 02 tháng 10 năm 2015.

ThS. Dương Thị Bích Thủy - Khoa Dân vận

Responsive image
 

 

các tin khác