Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác xử phạt vi phạm hành chính từ thực tiễn tỉnh An Giang

09:13 22/10/2018

     Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo qui định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính đúng qui định pháp luật là góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và công bằng xã hội đồng thời thông qua đó ý thức chấp hành pháp luật của người dân, trách nhiệm của những người thực thi pháp luật được nâng cao. Hơn nữa, nó còn có vai trò quan trọng trong việc đấu tranh, phòng và chống vi phạm pháp luật hành chính trên địa bàn cả nước nói chung và địa bàn tỉnh An Giang nói riêng.
     Thời gian qua, việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực trên địa bàn tỉnh thực hiện tương đối bài bản, theo đúng quy định của pháp luật hiện hành như Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy, Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, Nghị định số 121/2013/NĐ-CP qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở…
      Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu thực tế, vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc nhất định, chưa đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật. Nhiều hành vi vi phạm hành chính chưa được xử phạt, còn bị “bỏ lọt”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nêu trên, đó là:
Thứ nhất, khó khăn, vướng mắc xuất phát từ các qui định của văn bản pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể:
     Tại Khoản 2, Điều 10 Nghị định 178/2013/NĐ-CP ban hành ngày 14/11/2013 của Chính phủ qui định về xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm: “ Xử phạt đối với hành vi không thực hiện khám sức khỏe định kỳ cho đối tượng thuộc diện phải khám sức khỏe định kỳ theo một trong các mức sau đây:
a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với vi phạm dưới 10 người;
b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với vi phạm từ 10 người đến dưới 20 người;  …”. Như vậy với mức qui định xử phạt như trên là quá thấp so với chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra nếu tổ chức khám sức khỏe cho người lao động của doanh nghiệp, trong khi Nghị định lại không quy định biện pháp khắc phục bắt buộc buộc những người lao động phải đi khám sức khỏe nên doanh nghiệp sẵn sàng chịu nộp phạt thay vì phải tổ chức đi khám bệnh. Điều đó cho thấy tính khả thi trong Nghị định không cao.
     Có thể thấy, văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Xử lý Vi phạm hành chính theo từng lĩnh vực được ban hành ngày càng nhiều, có lúc chưa kịp thời, nội dung còn chồng chéo, mâu thuẫn rất khó áp dụng. Chỉ tính riêng lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm hiện có hơn 30 văn bản là Nghị định, Thông tư hướng dẫn của các bộ ngành như Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn… gây khó khăn trong công tác kiểm tra và áp dụng xử phạt vi phạm hành chính.
     Tại Khoản 1, Điều 7, Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu qui định: “1. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi  trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng”.  Đồng thời, tại Khoản 2, Điều 7 Nghị định này qui định biện pháp khắc phục hậu quả :” Buộc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ đối với hành vi quy định tại Khoản 1 Điều này”. Tuy nhiên trên thực tế khi thanh niên đã nhận lệnh gọi nhập ngũ nhưng cố tình không chấp hành hoặc gia đình của thanh niên nhận lệnh thay và không thông báo để thanh niên biết để chấp hành. Do vậy khi cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của thanh niên hoặc người thân thì chỉ áp dụng hình thức phạt tiền, còn biện pháp khắc phục hậu quả (buộc chấp hành lệnh nhập ngũ) không thể thực hiện được bởi đã qua thời điểm giao quân trong khi chính quyền địa phương buộc phải đảm bảo số lượng được giao cho đơn vị nhận. Và thực tế cũng không có cơ chế giao nhận thanh niên bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả giữa địa phương và đơn vị nhận quân. Điều này cho thấy qui định này thiếu tính khả thi, đối tượng có thể lợi dụng sự thiếu thống nhất giữa văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện để trốn tránh nghĩa vụ của mình.
     Tại Điều 17 Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định về hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm quy định về tiếng ồn. Khoản 8, khoản 9 của Điều này có quy định như sau:
     “8. Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn từ 35 dBA đến dưới 40 dBA.
     9. Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn trên 40 dBA”.
     Vậy, trường hợp gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn 40 dBA thì xử phạt như thế nào? Đây là trường hợp thuộc về lỗi kỹ thuật lập pháp, sự thiếu thận trọng trong việc sử dụng từ ngữ dẫn đến hậu quả khá nghiêm trọng. Chủ thể có thẩm quyền không có căn cứ để xử lý những chủ thể gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn 40 dBA.
     Vì vậy, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần sửa đổi khoản 9 Điều 17 như sau: “Phạt tiền từ 140.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn từ 40 dBA trở lên” tạo cơ sở để chủ thể có thẩm quyền xử phạt những hành vi gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn 40 dBA, tránh tình trạng bỏ lọt vi phạm.
     Thứ hai, khó khăn, vướng mắc trong việc tổ chức thực hiện Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn.
     Về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính: có sự mâu thuẫn quy định “tình tiết tăng nặng” tại Điểm b, Khoản 1, Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đó là: “Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm”. Nghĩa là, cùng một hành vi vi phạm mà hành vi này xảy ra tại nhiều thời điểm khác nhau, như hành vi trộm xe đạp diễn ra tại nhiều địa bàn của xã A (khoảng 06 lần), nhưng chưa bị phát hiện, đến khi bị bắt quả tang hành vi vi phạm cùng với tang vật, phát hiện ra hành vi vi phạm thì sẽ xử phạt 1 lần và áp dụng tình tiết tăng nặng. Trong khi đó, nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, tại Điểm d, Khoản 1, Điều 3 của Luật này có quy định: “Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.”. Như vậy, với trường hợp vi phạm vừa nêu, thì xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 10 hay xử phạt hành vi vi phạm theo từng thời điểm xảy ra hành vi vi phạm theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012?  Chính sự quy định thiếu rõ ràng trên dẫn đến việc các cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt lúng túng khi áp dụng điều luật, bởi nếu vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử lý có giống như thực hiện nhiều hành vi vi phạm được không? Mặt khác, quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 còn nhiều bất cập, cần được khắc phục. Cụ thể như: tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm l, Khoản 1, Điều 10 “Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;” cho đến nay các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa có hướng dẫn thống nhất về nhận thức tình tiết quy mô lớn; trị giá hàng hóa vi phạm đến mức nào thì được coi là “lớn” để áp dụng tình tiết tăng nặng này. Trong khi đó, việc áp dụng tình tiết tăng nặng khi ra quyết định xử phạt là giúp cho người có thẩm quyền áp dụng quy định của pháp luật đúng đắn và chính xác, nhưng với quy định chung chung không có định lượng, định tính cụ thể thì khó áp dụng trong thực tế.
     Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính: Tại Khoản 3, Điều 18, Luật Xử lý vi phạm hành chính qui định: “ Trong phạm vi, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND các cấp, thủ trưởng cơ quan đơn vị có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền” . Tuy nhiên trong thực tế xảy ra không ít vụ khi ban hành quyết định xử phạt hoặc xử lý vi phạm hành chính có sai sót về hình thức, nội dung chẳng hạn nhiều hồ sơ, tại phần căn cứ ban hành Quyết định xử phạt không viện dẫn văn bản giao quyền của cấp trưởng cho cấp phó trong trường hợp cấp phó ký quyết định xử phạt hoặc một số trường hợp áp dụng sai thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, theo đó hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND huyện nhưng Trưởng Công an huyện ký quyết định xử phạt… nhưng thực tế các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa ban hành hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện việc bổ sung, hủy bỏ, ban hành quyết định mới như thế nào để bảo đảm tính chặt chẽ và chính xác từ đó gây lúng túng cho chủ thể có thẩm quyền.
     Bên cạnh đó, tại Khoản 2, Điều 77 Luật này, quy định: “Đối với trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã ra quyết định xử phạt thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đó xem xét, quyết định việc giảm, miễn tiền phạt” nhưng lại cũng không quy định trình tự, thủ tục quyết định việc miễn, giảm tiền phạt, nên gây nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng.
     Về thời hạn ra quyết định xử phạt: Tại Khoản 1, Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản.Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại Điểm 2, Khoản 2 và Khoản 3, Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.”. Theo quy định này, Luật cho phép gia hạn 30 ngày đối với vụ việc phức tạp, tuy nhiên, lại chưa có quy định rõ loại vụ việc nào được coi là phức tạp để có thể áp dụng quy định về gia hạn thời gian. Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật này, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hành chính, nhưng với cơ quan hành chính nhà nước, trừ một số bộ phận “một cửa” làm việc thêm buổi sáng thứ bảy, còn lại làm việc có 05 ngày, vậy nếu 02 ngày còn lại rơi vào ngày nghỉ thì việc cơ quan chuyên môn hoàn chỉnh hồ sơ xử phạt tham mưu cho Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh để ra quyết định xử phạt sẽ không bảo đảm thời gian. Vì vậy Luật cần quy định rõ là “Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 07 ngày làm việc…”. Hơn nữa, kể từ khi ban hành Luật cho đến nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cụ thể thế nào là vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp? Do đó, trong quá trình thực thi áp dụng quy định này chưa bảo đảm tính thống nhất, gây lúng túng, khó khăn cho các chủ thể có thẩm quyền xử phạt.
     Về mức phạt tiền: Theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012: “Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng”; Điểm b, Khoản 2, Điều 38 Luật này quy định: “Phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2, Điều 67 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở, mà theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền “Phạt tiền đến 10.000.000 đồng”; Khoản 2, Điều 68 Nghị định này quy định Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền “Phạt tiền đến 100.000.000 đồng”. Rõ ràng nội dung các quy định giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 với văn bản Nghị định vừa trích dẫn trên là mâu thuẫn nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng.
     Về thực hiện quyết định xử phạt: Xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt đã chết, mất tích; tổ chức bị xử phạt vi phạm giải thể, phá sản theo quy định tại Điều 75 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Khoản 1, Điều 9 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, quy định: “Trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản theo quy định tại Điều 75 Luật Xử lý vi phạm hành chính, mà quyết định xử phạt vẫn còn thời hiệu thi hành, thì người đã ra quyết định xử phạt phải ra quyết định thi hành một phần quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày người bị xử phạt chết được ghi trong giấy chứng tử; người bị mất tích được ghi trong quyết định tuyên bố mất tích; tổ chức bị xử phạt giải thể, phá sản được ghi trong quyết định giải thể, phá sản. Quyết định thi hành gồm các nội dung sau: a) Đình chỉ thi hành các hình thức xử phạt, lý do đình chỉ; trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này; b) Hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả tiếp tục thi hành”. Thực tiễn cho thấy, lợi dụng quy định này, nhiều doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền lớn đã lập thủ tục xin giải thể, sau đó,  lập thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp mới, để trốn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hành cính của mình
     Thứ ba, khó khăn, vướng mắc xuất phát từ công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính.
     Hàng năm, các địa phương trên địa bàn tỉnh đã ban hành kế hoạch quản lý xử lý vi phạm hành chính, trong đó, xác định lĩnh vực trọng tâm liên quan đến việc xử lý vi phạm hành chính trong một số lĩnh vực, như: xây dựng, trật tự an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, giao thông đường bộ, môi trường,  an toàn thực phẩm… Tuy nhiên, việc xử phạt trong một số lĩnh vực như hộ tịch, văn hóa, môi trường chưa được cơ quan chức năng địa phương thực hiện, nhất là hiện tượng sử dụng âm thanh trong các đám tiệc, karaoke vượt quá quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn gây bức xúc cho người dân hiện nay.
     Việc phối hợp giữa các ngành, cơ quan chức năng trong xử lý vi phạm hành chính chưa cao, thiếu đồng bộ, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng trong xử phạt vi phạm hành chính giữa các cơ quan có thẩm quyền vì trên thực tế có một số trường hợp một hành vi bị xử phạt 2 lần cùng một lúc. Chẳng hạn vi phạm về lấn chiếm lòng lề đường trên quốc lộ 91, cơ quan chức năng của ban ngành tỉnh như thanh tra giao thông đã lập biên bản xử phạt rồi, một lúc sau địa phương không biết lại đến lập biên bản xử phạt nữa làm cho người dân rất bức xúc.
     Nhiều năm qua số biên chế tỉnh giao cho huyện không tăng và thực hiện đề án vị trí việc làm nên các cơ quan chuyên môn cấp huyện và UBND cấp xã chỉ có thể bố trí công chức kiêm nhiệm quản lý thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính tại cơ quan, đơn vị mình. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý theo dõi, thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính chưa được tập huấn nghiệp vụ thường xuyên hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận công nhận đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ trong một số lĩnh vực. Chẳng hạn như hiện nay trong xử lý vi phạm hành chính về môi trường, máy đo độ ồn là cần thiết trong việc xác định âm thanh có vượt quy chuẩn hay không và theo qui định thì cán bộ Tài nguyên và Môi trường mới có trách nhiệm thực hiện việc đo độ ồn. Tuy nhiên, hiện nay đa số các huyện chỉ được trang bị có 01 máy đo độ ồn thuộc quản lý của Phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ muốn đi đo được độ ồn phải được cấp chứng chỉ đào tạo, cơ quan công nhận kết quả đo tiếng ồn thì cơ quan đó phải được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận đủ điện kiện hành nghề trong lĩnh vực quan trắc tài nguyên và môi trường, nhưng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện thì chưa được cấp giấy chứng nhận này nên dẫn đến không thể thực hiện được.
     Công tác xử phạt vi phạm hành chính đôi khi thực hiện chưa nghiêm, còn tình trạng nể nang, quen biết nên các giai đoạn kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính chưa đảm bảo theo qui định như cùng một hành vi vi phạm nhưng có người bị xử phạt nhưng có người không bị xử phạt. Đặc biệt, trình độ và kinh nghiệm của người có thẩm quyền xử phạt, cán bộ tham mưu công tác xử phạt vi phạm hành chính ở một số lĩnh vực chưa đồng đều nên việc thiết lập hồ sơ xử phạt vẫn còn xảy ra sai sót.
         Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa thực sự đẩy mạnh đến tận từng người dân, từ đó ý thức pháp luật người dân chưa cao. Thực tiễn các địa phương cho thấy, số lượng các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trốn tránh, rời bỏ địa phương đi nơi khác hoặc quá nghèo không có điều kiện nộp phạt nên khó buộc thực hiện theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính chiếm tỷ lệ khá lớn. Điển hình về lĩnh vực trật tự xã hội ở xã Tân Hòa, huyện Phú Tân năm 2017, tổng số tiền theo quyết định xử phạt (44 đối tượng) là 120.450.000đ thực thu được 105.400.000đ, còn 15.050.000 đồng không chấp hành nộp phạt vì lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
     Phương tiện làm việc, trang thiết bị cho công tác xử phạt vi phạm hành chính ở cấp cơ sở chưa được đầu tư đúng mức như thiết bị đo độ ồn âm thanh.  Các điều kiện đảm bảo đủ tiêu chuẩn cho việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là hàng hóa phải bảo quản như con giống, cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu … vẫn còn hạn chế.
     Trong xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, một số hành vi có mức xử phạt vi phạm hành chính cao hơn giá trị của phương tiện vi phạm nên các đối tượng bỏ phương tiện rất nhiều, địa phương phải thông báo bán đấu giá, giải quyết tang vật nhưng thực tế chi phí đi xác minh chủ sở hữu phương tiện để làm thủ tục bán đấu giá còn cao hơn gía trị bán ra của phương tiện. Ví dụ; 01 chiếc xe gắn máy đi xác minh tốn khoảng 1.200.000đ, nhưng đem ra bán đấu giá chỉ thu lại được khoảng 800.000đ đến 1.000.000đ. Điều này rất khó khăn cho địa phương.
     Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, trong thời gian tới, để tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng, thiết nghĩ cần tăng cường thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
    Thứ nhất, cần rà soát những qui định không phù hợp, thiếu chặt chẽ, bất cập trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực để từ đó có ý kiến đề xuất, kiến nghị đến cơ quan cấp trên điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo tính khả thi. Đặc biệt, đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thẩm quyền xử phạt, trình tự, thủ tục  xử phạt vi phạm hành chính nhằm rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật của các lực lượng chức năng có thẩm quyền xử phạt.
     Thứ hai, cần đảm bảo đủ nguồn lực về điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực cho công tác xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt là kinh phí mua sắm các thiết bị chuyên dụng cần thiết phục vụ cho việc xác định hành vi vi phạm làm cơ sở ra quyết định xử phạt… Bên cạnh đó, căng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản nghiệp vụ chuyên ngành, tập trung vào công tác xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cho đội ngũ quản lý và trực tiếp làm công tác xử lý vi phạm hành chính.
     Thứ ba, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, xử lý nghiêm các cá nhân, đơn vị có hành vi vi phạm, để xảy ra sai sót, hạn chế theo quy định; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
     Thứ tư, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả phối hợp giữa các Sở, ngành trong công tác quản lý và xử phạt vi phạm hành chính, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Cần xây dựng Quy chế phối hợp trong công tác xử phạt vi phạm hành chính. Đây là cơ sở để quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan liên quan trong việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
     Thứ năm, chính quyền địa phương cần đề ra được các biện pháp phù hợp giải quyết các trường hợp người vi phạm trốn tránh, không chấp hành quyết định xử phạt hành chính để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Hoặc đối với những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, cơ quan chức năng cho có thể cho gia hạn thời gian nộp phạt theo quyết định xử phạt hành chính theo qui định của Luật nhằm đảm bảo mọi quyết định hành chính đều phải được thi hành.
     Thứ sáu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là công tác xây dựng, nhập dữ liệu, tra cứu phần mềm cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính. Điều này góp phần quan trọng cho việc xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện khoa học, chính xác và nhanh chóng. Ngoài ra, cần xây dựng đường dây nóng để khi có vấn đề xảy ra, người dân có thể liên hệ kịp thời nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm hành chính trên các lĩnh vực ở địa phương.
     Thứ bảy, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đồng thời đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền các quy định về xử lý vi phạm hành chính đảm bảo phù hợp với từng nhóm đối tượng ở các khu vực khác nhau, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật của nhân dân.
     Tóm lại,  hiện nay, mặc dù chưa có báo cáo hoặc đánh giá chính thức của các cơ quan Nhà nước về những ảnh hưởng của vi phạm hành chính đối với kinh tế - xã hội ở nước ta, nhưng một điều không thể phủ nhận là tình hình vi phạm hành chính đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đối với nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, ảnh hưởng đến môi trường sản xuất, kinh doanh, đầu tư và phát triển kinh tế, ảnh hưởng đến  trật tự an toàn xã hội và đời sống sinh hoạt của nhân dân. Vi phạm hành chính cũng đã gây ra những thiệt hại đáng kể về vật chất, tinh thần đối với các tổ chức, cá nhân và toàn thể cộng đồng xã hội. Chính vì vậy, việc hoàn thiện các văn bản pháp luật về công tác xử phạt vi phạm hành chính,  việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác chỉ đạo, tổ chức, thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính một cách nghiêm túc, hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh An Giang nói riêng./.

*Tài liệu tham khảo:
- Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012;
- Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;
-  Nghị định số 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm;
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy;
- Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
- Nghị định số 121/2013/NĐ-CP qui định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở;
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu;
- Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt;
- Thông tư số 39/2010-BTNMT ban hành ngày 16/12/2010 quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

ThS. Phan Thị Tuyết Minh- Khoa Nhà nước và Pháp luật

Responsive image
 

 

các tin khác