Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Quan niệm cơ bản về chủ thuyết phát triển

02:23 07/09/2017

Chủ thuyết phát triển mặc dù là thuật ngữ không mới nhưng hầu như chỉ được biết đến một cách rộng rãi trong những năm gần đây kể từ sau khi đề tài độc lập cấp nhà nước “Chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh và vận dụng chủ thuyết đó trong những thập kỷ đầu thế kỷ XXI (hướng tầm nhìn tới năm 2020 và 2045)”, mã số DAĐL.2008G/9 được Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cho phép nghiên cứu. Quá trình triển khai thực hiện đề tài với nhiều cuộc hội thảo, thảo luận khiến cho tần suất xuất hiện của thuật ngữ này dần một nhiều hơn trong giới nghiên cứu. Mới đây, công trình này đã được xã hội hóa với xuất bản phẩm “Nghiên cứu chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành giúp cho nhiều người biết đến thuật ngữ này hơn.

Chủ thuyết được hiểu như một học thuyết chủ đạo, chủ yếu, cốt yếu làm nổi bật và nổi trội hệ thống lý luận nền tảng của một chủ thể. Nếu hiểu một cách ngắn gọn, chủ thuyết chính là lý thuyết chủ yếu (fundamental theory). Chủ thuyết phát triển là học thuyết chủ đạo, chủ yếu, cốt yếu của hệ thống lý luận về phát triển của một chủ thể. Chủ thuyết thể hiện thành lý luận, lý thuyết, tạo thành hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, các luận điểm ở tầm khái triết học, phản ánh tầm nhìn chiến lược về phát triển xã hội và hành động tự giác, năng lực sáng tạo của chủ thể trong việc tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển.

Nghiên cứu về chủ thuyết phát triển của Việt Nam từ công trình trọng điểm nêu trên đã đưa ra định nghĩa về khái niệm chủ thuyết. Theo đó, chủ thuyết là hệ thống những quan điểm, những nhận thức, những tư tưởng hợp thành cơ sở lý thuyết chủ yếu có tác dụng chi phối hướng dẫn cho sự phát triển của đất nước trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Chủ thuyết có thể do bản thân nhà lãnh đạo quốc gia đề xướng, những cũng có thể do cá nhân hoặc tập thể các nhà khoa học xây dựng nên và được nhà cầm quyền chấp nhận.

Chủ thuyết được thể chế hóa thành đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược và kế hoạch phát triển của quốc gia để đưa vào thực hiện trong cuộc sống, làm cho những mục tiêu phát triển trở thành hiện thực. Cũng giống như lý luận, chủ thuyết không phải là một cái gì đó “nhất thành bất biến”. Nó cần luôn được bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại.

“Chủ thuyết” phản ánh đối tượng phải đạt trình độ của “lý luận”, còn trọng tâm lại phải đặt ở tính định hướng thực tiễn cho hoạt động của chủ thể. Chủ thuyết vạch ra mục tiêu, chỉ ra công cụ, phương tiện và cách thức hành động, lộ trình phải đi, lực lượng phải có cũng như chiến lược, sách lược cho từng thời kỳ… bảo đảm cho chủ thể đạt tới các mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài.

Chủ thể với nghĩa là học thuyết lý luận chủ đạo có vai trò, tác dụng định hướng về quan điểm tư tưởng cho sự phát triển xã hội, cho sự xác lập mô hình, đường lối, chính sách phát triển của một quốc gia – dân tộc, do đó không phải là biệt phái, giáo điều, đóng kín mà là một học thuyết mở, một hệ thống mở, có khả năng tiếp thu chọn lọc những tinh hoa từ bên ngoài, làm phong phú, sâu sắc và hiện đại chính bản thân học thuyết đó. Thông qua những tiếp biến văn hóa để phát triển, đó là con đường, là phương thức tất yếu để thực hiện sự phát triển không chỉ đối với lý luận mà còn đối với thực tiễn xã hội.

Học thuyết lý luận chủ đạo trong chủ thuyết phát triển của Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo “Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển”, Chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống có căn cứ khoa học của các quan điểm triết học, kinh tế, chính trị - xã hội; học thuyết về nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy con người, về những con đường cách mạng lật đổ chế độ bóc lột và xây dựng chủ nghĩa cộng sản; thế giới quan của giai cấp công nhân và đội tiên phong là các đảng cộng sản. Chủ nghĩa Mác – Lênin là một lý luận khoa học hoàn chỉnh, cân đối gồm ba bộ phận cấu thành chính là: Triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), kinh tế chính trị học, chủ nghĩa cộng sản khoa học. Mỗi bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác – Lênin lại chia thành nhiều bộ phận hoặc các môn độc lập. Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết có tính đảng, tính chiến đấu, là hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, biểu hiện những lợi ích thiết thân của mọi người lao động. Học thuyết Mác – Lênin không chỉ là kim chỉ nam trong hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo xã hội, mà còn chỉ rõ con đường nhận thức sâu sắc thế giới và các quy luật của thế giới, là tiền đề cho việc nghiên cứu khoa học có hiệu quả, là cội nguồn trần đầy sức sống cho sự sáng tạo nghệ thuật. Là thế giới quan khoa học, chủ nghĩa Mác – Lênin mang lại cho con người phương hướng đúng đắn trong cuộc sống, giúp cho con người xác định được vị trí của mình trên thế giới, xác định được mối quan hệ của mình với những người khác, rèn luyện cách xử thế mà đặc điểm là niềm tin về mặt tư tưởng, sự kiên định về mặt chính trị, tính nguyên tắc, tính nhân đạo sâu sắc.

Đến nay có rất nhiều định nghĩa về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Việt Nam về cơ bản đã chính thức 3 lần nêu lên định nghĩa khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh trong văn kiện Đại hội VII, Đại hội IX, Đại hội XI. Theo văn kiện Đại hội XI, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của toàn Đảng và toàn dân tộc ta.

Học thuyết chủ đạo, cốt yếu ấy đương nhiên phải được nhận thức trên quan diểm động chứ không tĩnh; biện chứng chứ không siêu hình; đổi mới và phát triển chứ không khuôn sáo, cứng nhắc, giáo điều; biết tiếp thu những tinh hoa tư tưởng, những thành tựu văn hóa từ trong di sản truyền thống của dân tộc cũng như tinh hoa tư tưởng, văn háo của thế giới nhân loại qua các thời kỳ kịch sử một cách chọn lọc, vận dụng và phát triển sáng tạo, làm sống động và phong phú học thuyết chủ đạo trong đời sống thực tiễn, nhằm nhận thức và cải biến thực tiễn theo đúng quy luật khách quan.

Như vậy, ở nước ta, chủ thuyết phát triển thường được đề cập với nghĩa chủ thuyết phát triển xã hội được hợp thành bởi chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể để đề ra các lý thuyết phát triển ở tầm vĩ mô chính là chủ thuyết phát triển Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. A.M. Ru-mi-an-xtep (1986), Chủ nghĩa cộng sản khoa học từ điển, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Bùi Thanh Quất, Về các khái niệm, phạm trù nghiên cứu chủ thuyết, Chuyên luận viết cho đề tài mã số DAĐL.2008G/9.

Trần Thị Phương Huỳnh

Học viện Chính trị khu vực IV

các tin khác