Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Vận dụng quan điểm nghệ thuật của Platon vào việc giáo dục nhân cách con người cho thanh thiếu niên hiện nay

04:10 10/05/2017

Platon (427 – 347 TCN), được sinh ra ở đảo Egine, một hòn đảo không xa Athènes, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc. Thời niên thiếu, Platon là người rất thông minh, khoẻ mạnh và từng hai lần đoạt danh hiệu vô địch điền kinh của thị quốc, từ đó người đời quen gọi ông với cái tên Platon (tức "vạm vỡ" hay "vai rộng").

    

     Sinh thời, ông lớn lên trong giai đoạn khủng hoảng sâu sắc của nền dân chủ chủ nô: chiến tranh, nghèo đói, sự đổi thay của quyền lực cai trị đã tác động khá mạnh mẽ đến suy nghĩ tư duy của ông. Từ 409 – 400 TCN, hầu như ông chịu ảnh hưởng trực tiếp về tư tưởng, cả về lối sống, lẫn quan điểm chính trị - xã hội của Socrate. Trường phái Platon thu nạp khá nhiều môn đệ, đồng thời là một trong những trường phái tồn tại lâu dài nhất ở châu Âu trong quá khứ.

 

     Trong gần 50 năm hoạt động, Platon để lại một di sản các tác phẩm đồ sộ. Đối với quá trình giao lưu văn hoá, việc nghiên cứu các quan điểm về nghệ thuật của các nước khác trên thế giới vô cùng quan trọng. Đặc biệt, khi nền văn hoá phương Tây đang ngày càng có nhiều ảnh hưởng rộng khắp, việc nghiên cứu các quan điểm nghệ thuật của các nhà tư tưởng phương Tây mang lại nhiều giá trị thiết thực. Platon là một trong những nhà tư tưởng đó, với những cống hiến vô cùng quan trọng cho nhân loại. Ông có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới sự hình thành và phát triển của mỹ học phương Tây với những quan điểm về cái đẹp, về nghệ thuật rất đặc sắc. Đặc biệt trong các quan niệm về mỹ học của Platon, vấn đề về nghệ thuật chiếm một vị trí quan trọng, với những nhận xét tinh tế trong việc sử dụng nghệ thuật vào quá trình hình thành nhân cách con người trong nhà nước lý tưởng của ông.

 

     Khi bàn về nghệ thuật, theo Platon "Cái gì đúng là đẹp", qua đó với sự xét đoán của khoa học, cái đúng, cái sai sẽ được xác định và cái đẹp nhất thiết phải là cái đúng. Có thể nói đó chính là khái niệm về "cái chân" xuất hiện trong mỹ học, cái chân (cái thật, cái đúng) là một tiêu chuẩn của cái đẹp cả trong đời sống lẫn trong nghệ thuật.

 

     Theo ông, những người mê âm nhạc, ca kịch chỉ thích màu sắc, âm thanh và hình dạng cũng như tất cả các sản phẫm từ chúng, nhưng tâm hồn của họ không thể nhìn thấy hay yêu mến cái đẹp tuyệt đối. Những người nhận thức được cái đẹp bên ngoài mà không nhận thức được cái đẹp tuyệt đối, hay người đó được người khác chỉ cho cái đẹp tuyệt đối nhưng không có khả năng đi theo - những hạn người này theo Platon chỉ là những người đang nằm mơ, thường là những người mô phỏng các sự vật chứ không phải nhìn thấy chân tướng sự vật.

 

     Những người thấy cái đẹp nhưng không thấy cái đẹp tuyệt đối, cũng không thể theo hướng dẫn của những người chỉ cho họ, những người như thế là những người chỉ có ý kiến chứ không hề có tri thức. Ý kiến mà không có kiến thức thì chỉ là hình bóng của sự thật, tối đa nó cũng chỉ là một ý kiến mù quáng. Ông cho rằng: "Một người cho là thật điều mà họ không hiểu biết thì cũng chỉ là một người mù tình cờ mà đi đúng đường thôi"

 

     Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là, cái đẹp tuyệt đối là gì? Đâu là cái đẹp thật sự? Đâu là sự mô phỏng? Platon cho rằng, các vật thụ cảm thay đổi, thoáng qua, nó xuất hiện rồi tiêu biến, vì thế nó không phải là tồn tại đích thực. Tồn tại đích thực, chân chính chỉ là ý niệm, một lực lượng tinh thần tồn tại bên ngoài con người, có trước con người. Xuất phát từ thế giới quan cho rằng thế giới các vật thụ cảm là cái bóng của thế giới ý niệm, Platon thừa nhận vẻ đẹp của các sự vật, hiện tượng, nhưng lại cho vẻ đẹp ấy chỉ thoáng qua, nhất thời. Ông cho cái đẹp vĩnh hằng là cái đẹp trong ý niệm, các đồ vật đẹp chỉ là cái bóng của ý niệm đẹp.

 

     Thêm vào đó, Platon nhận thấy rằng, các vật khi nhìn ở ngoài nước thì phẳng, nhưng ở trong nước thì cong, cái lồi thì thành lõm, do ảo giác của thị giác về màu sắc, mọi sự lẫn lộn được tỏ lộ trong chúng ta, đó là yếu kém trong tinh thần của con người và dựa vào đó mà nghệ thuật đánh lừa chúng ta bằng màu sắc và bóng tối và các phương pháp tinh vi khác. Vì vậy ông khẳng định: "Nghệ thuật bắt chước là một nghệ thuật thấp kém kết hôn với một nghệ thuật thấp kém và đẻ ra những đứa con thấp kém"

 

     Ngoài ra, theo Platon, sáng tác nghệ thuật không phải là một thứ kỹ nghệ mà là thứ linh cảm do một loại thần lực làm phấn chấn giống như điều xảy ra với hòn đá nam châm. Hòn đá đó không chỉ hút những vòng sắt mà còn truyền sức hút cho các vòng sắt. Nữ thần thơ ca cũng giống như những hòn đá nam châm, truyền linh cảm cho một số người rồi tiếp tục truyền tạo thành một sợi xích.

 

     Do đó, Platon không tìm cái đẹp trong các sự vật cảm thụ đơn nhất, trong quan hệ giữa chúng đối với hoạt động của con người mà tìm cái gì là đẹp đối với tất cả, đẹp vĩnh hằng và ông cho rằng chỉ có ý niệm, nguyên mẫu của các đồ vật, làm các đồ vật trở nên đẹp là tuyệt đối đẹp mà thôi.

 

     Platon đã tiếp tục truyền thống của những nhà tư tưởng trước đó như Đêmôcrít, Socrate coi nghệ thuật là sự mô phỏng, tái hiện hiện thực, vật thể, chỉ có điều trong hệ thống triết học của ông các đồ vật chỉ là hình bóng của các ý niệm. Như vậy, khi tái hiện các vật thể, người nghệ sĩ không tiếp cận tới cái hiện thực chân chính và cái đẹp, mà chỉ tái hiện lại cái bóng của nó.

 

     Về vấn đề sử dụng quan điểm nghệ thuật của Platon vào việc giáo dục nhân cách con người cho thanh thiếu niên hiện nay

 

     Từ những quan điểm cơ bản của Platon về nghệ thuật, chúng ta có thể thấy rằng Platon đã coi thường nghệ thuật phản ánh cuộc sống, nhưng ông không phủ nhận tác dụng của nghệ thuật. Trái lại, chính vì thấy ảnh hưởng quá to lớn của nghệ thuật "bắt chước" nên ông đã bỏ ra rất nhiều công sức tìm cách hợp pháp để đuổi các nhà thơ ra khỏi nhà nước lý tưởng của mình sau khi đội lên đầu họ vòng nguyệt quế. Plato hiểu rất rõ tác dụng to lớn của giáo dục nghệ thuật trong việc hình thành nhân cách con người. Trong học thuyết của mình, Platon yêu cầu trước khi học thể dục, quân sự, khoa học, triết học, mỗi con người trong nhà nước lý tưởng phải tiếp thu âm nhạc và cần có chế độ kiểm tra nghệ thuật. Trong việc giáo dục nghệ thuật, Plato đặc biệt chú ý tới hai hình thức: văn học và âm nhạc.

 

     Văn học, theo Platon, có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con người. Do đó, việc sử dụng các hình thức của văn học vào quá trình giáo dục cần phải được xem xét một cách nghiêm túc. Ông cho rằng, cần phải bắt đầu giáo dục con người từ lúc bé bằng các câu truyện thần thoại nhằm tạo ra óc tò mò, ham hiểu biết, ham khám phá cho những đứa trẻ. Các nhà cai trị phải bắt đầu bằng việc kể cho trẻ em các câu truyện, tuy không hoàn toàn có thật, chủ yếu là các câu truyện hư cấu. Tuy nhiên, không được cẩu thả cho phép trẻ em nghe bất cứ câu truyện ngẫu nhiên nào được bịa ra bởi bất cứ người nào, khiến tâm trí của trẻ em phải hấp thu các ý tưởng mà xã hội không muốn có khi chúng lớn lên. Do vậy, những câu truyện tốt kể cho trẻ nghe nhằm uốn nắn tâm trí trẻ em bằng các câu truyện mang tính chất giáo dục như trên.

 

     Platon còn cho rằng, việc giáo dục cần phải hướng tới việc đào tạo những con người dũng cảm, không sợ hãi trước cái chết và xem cái chết là một điều gì đó thật nhẹ nhàng và chết cho dân tộc là một điều hạnh phúc. Chính vì vậy, thi ca phải hướng con người tới những đức tính trên chứ không nên tạo cho con người một sự nhút nhát, sợ hãi. Platon nhận thấy rằng, các câu truyện mà con người vẫn thường kể có những tác động tai hại tới việc giáo dục con người. Nó thường mô tả thế giới âm ty với đầy sự đau khổ, khiếp sợ, biến cái chết thành một cơn ác mộng đối với các chiến binh, và điều này ảnh hưởng không nhỏ đối với lòng dũng cảm của họ.

 

     Platon kết luận rằng: văn học cần phải được đặt ra các tiêu chuẩn, các chuẩn mực, và đòi hỏi các thi sĩ phải thực hiện. Việc giáo dục con người bằng văn học cũng phải được thực hiện theo các chuẫn mực, nhằm đào tạo con người với những nhân cách có lợi cho bản thân họ và cho xã hội. Đối với Platon, xã hội cần những thi sĩ hay những người kể chuyện đơn sơ và nghiêm túc để có ích cho con người.

 

     Âm nhạc, Platon nhận thấy rằng, việc huấn luyện âm nhạc là một dụng cụ mạnh hơn mọi thứ khác, bởi vì tiết tấu và âm điệu tìm được lối đi vào nơi sâu thẫm của tâm hồn, và làm cho tâm hồn của người được giáo dục trở nên hoàn mỹ, hay làm cho con người không được giáo dục trở thành xấu xa. Âm nhạc cần phải bắt đầu huấn luyện từ nhỏ, phải được huấn luyện cẩn thận và suốt đời.

 

     Tiếp đó, theo Platon, trong âm nhạc, những âm điệu thể hiện sự say sưa, yếu mềm và lười biến cũng hoàn toàn không phù hợp với tính cách của những con người trong xã hội lý tưởng. Bởi những đức tính này sẽ là sự cản trở lớn của sự phát triển xã hội và việc rèn luyện phẩm chất của bản thân. Và từ đó, Plato đề cao âm điệu hào hùng, nó thể hiện được sức mạnh và lòng quyết tâm, nó thúc dục, vực dậy ở những con người với sức mạnh tinh thần cao quý.

 

     Ngoài âm điệu của sự hùng hồn, Platon còn mong muốn con người được giáo dục bởi những âm điệu của sự hoà bình trong thời bình, nhầm gợi lên những tình cảm của con người với dân tộc, đất nước. Nhờ những âm điệu như thế, con người sẽ biết yêu quý quê hương, ra sức xây dựng và bảo vệ đất nước, hướng con người tới những giá trị cao đẹp, nhân văn.  Platon đã nói rằng: "…tôi muốn có một âm điệu khác để họ dùng vào thời bình và tự do, khi không còn sức ép của sự bó buột, ...khi họ đã đạt được mục đích bằng cách cư xử khôn ngoan trong mọi hoàn cảnh, biết khoan dung khi cần thiết…" .

 

     Như vậy có thể thấy rõ ông luôn đòi hỏi các hình thức của nghệ thuật phải ca ngợi cuộc sống, khơi gợi những tình cảm thiêng liêng của con người. Và Plato tin rằng, bằng các yêu cầu đối với nghệ thuật và các phương án giáo dục con người bằng những nghệ thuật chân chính, sẽ đem lại những con người lý tưởng cho nhà nước lý tưởng.

 

     Thật vậy, trong giáo dục hình thành nhân cách con người hiện nay ở từng cấp học từ tiểu học, trung học cho đến các cấp học cao hơn, chúng ta cần phải chú trọng giáo dục các hình thức nghệ thuật như văn học, âm nhạc cho thanh thiếu niên từ rất sớm để hình thành tính cách con người từ việc nhận thức sự vật một cách cảm tính (đơn giản) sang lý tính (phức tạp), từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Nhà trường, gia đình và xã hội phải giáo dục thanh thiếu niên từ những việc làm, hành động có ý nghĩa nhân văn, đạo đức con người, biết yêu cái đúng, cái đẹp, và biểu hiện thái độ chống cái sai, cái ác, cái xấu xa. Cụ thể như qua văn học nghệ thuật, thanh thiếu niên học hỏi được tính cách cao cả, dũng cảm, hy sinh của các anh hùng dân tộc, tính chịu thương, chịu khó trong học tập, lao động, sản xuất, sáng tạo, nghiên cứu khoa học, biết kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc và phát huy tinh hoa văn hóa của nhân loại (tiếp thu văn hóa thế giới có chọn lọc phù hợp với phong tục, tập quán của quốc gia), hình thành cho thanh thiếu niên các thái độ tinh thần yêu quê hương, tự hào dân tộc, độc lập chủ quyền lãnh thổ, yêu hòa bình, bảo vệ công lý, tình cảm bạn bè, lễ phép với người lớn tuổi, sẵn sàng giúp đỡ người gặp khó khăn... Đồng thời, xây dựng cho thanh thiếu niên những thái độ và hành động phản đối các cuộc chiến tranh phi nghĩa, chống kẻ thù đang tìm cách chống phá công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc, chống bạo lực học đường, chống bệnh lười biếng, hèn nhát, chống văn hóa ngoại lai...đang rình rập diễn ra hàng ngày ở mọi nơi trên đất nước.


* Tài liệu tham khảo:

1. Benjamin Jowett &M.J.Knight, Plato chuyên khảo, Nxb Văn hoá Thông tin, 2008.

2. David E. Cooper, Các trường phái Triết học trên thế giới, Nxb Văn hoá Thông tin, 2005.

3. Đỗ Huy, Mỹ học với tư cách là một khoa học, 1996.

4. Lý Chấn Thành, Nguyên cứu Triết học cơ bản, Nxb Tri thức, 2007.

5. Giáo trình Mỹ học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004.

6. Nguyên lý Mỹ học Mác-Lênin, Nxb Sự thật, 1961.

 

ThS. Phạm Thanh Hải - Khoa Lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Responsive image
 

 

các tin khác