Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Khái lược về chế độ tổng thống ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

04:11 19/04/2017

Những ngày qua, thế giới quan tâm đặc biệt đến những bước đi đầu tiên của tỉ phú Donald Trump sau khi ông chính thức nhận chức Tổng thống thứ 45 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hôm 20/01. Vị tổng thống được xem là giàu có về tài sản nhất trong lịch sử nước Mỹ đến thời điểm hiện tại đã thực thi quyền trên cương vị tổng thống bằng cách ra các sắc lệnh thu hút sự chú ý và bình luận, phản ứng ở những góc độ khác nhau, thậm chí là đối lập một cách chia rẽ, không chỉ trong lòng nước Mỹ mà còn lan rộng trên phạm vi thế giới. Là cá nhân lãnh đạo cao nhất của siêu cường, tổng thống Mỹ tạo nên phổ tác động toàn cầu. Điều đó có được bởi các quy định về quyền hạn trong chế độ tổng thống Mỹ.

    

     Thể chế chính trị của Mỹ được tổ chức theo cách gọi thông thường là chế độ tổng thống. Cũng giống như nhiều nước khác, hệ thống chính trị Mỹ cũng tồn tại ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mặc dù tổng thống chỉ là người đứng đầu nhánh lập pháp nhưng những quy định về vai trò và quyền hạn của vị trí này rất lớn và tập trung. Khác với nhiều nước tư bản phát triển khác như Anh hoặc Pháp, quyền đại diện cho đất nước với tư cách là người đứng đầu nhà nước và quyền cai quản đất nước với tư cách là người đứng đầu chính phủ Mỹ đều tập trung trong tay tổng thống. Tổng thống Mỹ cùng một lúc đóng vai trò nhà vua và thủ tướng như ở Anh hay tổng thống và thủ tướng ở Pháp. Trên thực tế, tổng thống Mỹ nắm giữ quyền lực lớn nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị Mỹ: người đứng đầu nhà nước, người đứng đầu chính phủ, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, lãnh đạo đảng chính trị cầm quyền, nhà ngoại giao chủ yếu nhất của đất nước,… Vai trò và quyền hạn của tổng thống được tập trung cùng lúc và có thể khái quát trên ba nhánh quyền cơ bản:

 

    Một là, quyền hành pháp.

 

     Tổng thống Mỹ được Hiến pháp giao trách nhiệm của một nhà quản lý chính (Chief Administrator) phải “chăm lo để luật pháp được thực hiện một cách nghiêm minh”. Tổng thống đứng đầu và điều hành một bộ máy cơ quan hành chính gồm hàng triệu người với hơn 60 cơ quan độc lập, 14 bộ và văn phòng tổng thống; bổ nhiệm và bãi nhiệm hầu hết quan chức chủ chốt thuộc nhánh hành pháp như nhân viên nhà trắng, bộ trưởng, quan chức cấp cao trong các bộ và các cơ quan độc lập. Quy định này đảm bảo để tổng thống có thể kiểm soát chặt chẽ các cơ quan thuộc nhánh hành pháp, bảo đảm khả năng thực thi các chính sách do tổng thống đề ra thông qua việc lựa chọn các cá nhân cùng quan điểm để trung thành và chia sẽ. Truyền thống chính trị của Mỹ xác lập tổng thống toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm chính về lựa chọn nhân sự của mình. Tuy nhiên, gần đây trong một số ít trường hợp, thượng viện bác bỏ đề cử nhân sự của tổng thống. Đó là những dấu hiệu của đấu tranh đảng phái hơn là sự suy giảm quyền lực của tổng thống.

 

     Tuy nhiên, luật pháp Mỹ cũng có những quy định mà quá trình thực thi tạo ra nhiều khả năng làm cho thấy những “điểm yếu” trong quyền hạn của tổng thống. Mặc dù có quyền bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan chức chủ chốt trong bộ máy hành chính nhưng tổng thống lại không quyết định vị trí và công việc của các nhân viên trong bộ máy hành chính thuộc quyền của các quan chức chủ chốt ấy. Đa số các nhân viên này hoàn toàn độc lập với tổng thống và đây là một trong những hạn chế đối với quyền hạn của tổng thống. Thực tế một số trường hợp đã tạo nên hệ lụy từ quy định này, rõ nhất là trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba, nhân viên Bộ Ngoại giao đã không tuân lệnh của Tổng thống Kennedy rút tên lửa ra khỏi Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đến tình hình phức tạp hơn.

 

     Hai là, quyền lập pháp.

 

     Những quyền hạn về mặt lập pháp mà Hiến pháp Mỹ trao cho tổng thống làm cho tổng thống trở thành nhà làm luật chủ yếu (Chief Legislator). Tổng thống có quyền phủ quyết, quyền khuyến nghị các văn bản pháp luật cho quốc hội, quyền triệu tập các kỳ họp đặc biệt của quốc hội và quyền đệ trình các kiến nghị cho quốc hội. Hiến pháp quy định quốc hội là cơ quan nắm giữ quyền lập pháp chủ yếu nhưng cũng trao cho tổng thống quyền phủ quyết cũng như đưa ra các sáng kiến và dự thảo luật. Tổng thống Mỹ có quyền phủ quyết bất cứ dự luật nào mà quốc hội đã thông qua để nó không thể trở thành luật, trừ khi có 2/3 số thành viên của mỗi viện trong quốc hội bỏ phiếu để đảo ngược quyền phủ quyết của tổng thống. Tuy nhiên, lịch sử Mỹ rất hiếm thấy chuyện quốc hội đảo ngược quyền phủ quyết của tổng thống.

 

     Bên cạnh quyền phủ quyết, vai trò của tổng thống trong lĩnh vực lập pháp còn thể hiện trong những sáng kiến và dự thảo văn bản luật. Là người có trách nhiệm chính trong khởi xướng chính sách quốc gia, hầu hết các văn bản luật mà quốc hội xử lý và thông qua được dự thảo với sáng kiến của nhánh hành pháp do tổng thống đứng đầu. Khi tổng thống gửi một dự thảo luật, nó sẽ chiếm vị trí đầu tiên. Tất cả các dự thảo luật khác chỉ chiếm vị trí thứ hai. Điều này cho thấy vai trò to lớn của tổng thống trong quá trình ban hành luật của quốc hội.

 

     Tổng thống có ảnh hưởng rất lớn đến chương trình nghị sự của quốc hội. Điều 2, Phần 3 Hiến pháp Mỹ quy định: “Tổng thống cung cấp cho quốc hội những thông tin về tinh hình của liên bang (thông điệp liên bang) và khuyến nghị để quốc hội xem xét những biện pháp mà ông ta thấy cần thiết và thích hợp”. Trong những lúc thấy cần, tổng thống có quyền triệu tập phiên họp đặc biệt của quốc hội. Các sáng kiến lập pháp của tổng thống có ý nghĩa quyết định đến chương trình nghị sự của quốc hội; chỉ có tổng thống mới có khả năng quyết định chương trình nghị sự của quốc hội trong một lĩnh vực chính sách nào đó. Bắt đầu từ Franklin Roosevelt, mỗi tổng thống đều đệ trình lên quốc hội một chương trình nghị sự lập pháp chi tiết hàng năm và chương trình này hầu hết trở thành nội dung nghị sự của quốc hội trong năm.

 

     - Ba là, quyền tư pháp.

 

     Bên cạnh quyền bổ nhiệm các quan chức chính phủ chủ chốt, biểu hiện tập trung của quyền hạn tổng thống chính là chỉ định các quan tòa liên bang, kể cả thành viên tòa án tối cao với sự phê chuẩn của thượng viện. Việc tổng thống chỉ định các quan tòa liên bang, kể cả thành viên tòa án tối cao để lại ảnh hưởng rất lớn đối với nhánh tư pháp bởi các thẩm phán liên bang là trụ cột của nhánh tư pháp. Khi lựa chọn và chỉ định, tổng thống luôn chọn người cùng hoặc gần gũi quan điểm và trung thành. Ngoài ra, tổng thống còn có quyền ban bố lệnh ân xá hoàn toàn hay có điều kiện cho bất kỳ ai đã bị kết tội vi phạm luật pháp liên bang. Tổng thống Gerald Ford đã ân xá hoàn toàn cho cựu Tổng thống Nixon.

 

     Bên cạnh ba quyền nêu trên, vị thế của tổng thống Mỹ còn thể hiện rõ trên lĩnh vực đối ngoại. Tổng thống là người đại diện tối cao cho đất nước trong các quan hệ đối ngoại. Trách nhiệm chính trong hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của Mỹ thuộc về Tổng thống. Tuy nhiên, khi tổng thống ký các hiệp ước phải được sự phê chuẩn của Thượng viện. Hầu hết các hiệp ước đều được Thượng viện phê chuẩn. Đối với các hiệp định hành pháp (có hiệu lực tương đương như một hiệp ước chính thức trong quan hệ quốc tế), tổng thống Mỹ có quyền ký với các nước khác mà không cần đến sự phê chuẩn của Thượng viện. Sự thuận lợi này là nguyên nhân khiến cho nhiều tổng thống Mỹ thiên về sử dụng hiệp định hành pháp hơn. Tổng thống có quyền bổ nhiệm đại sứ, tham tán và lãnh sự với sự tán thành đa số thông thường (hơn 50%) chứ không phải 2/3 số thượng nghị sĩ có mặt; quyền tiếp nhận các đại sứ vả quan chức nước ngoài – quyền không chỉ có tính chất nghi lễ mà còn có ý nghĩa thể hiện quyền quyết định và duy trì quan hệ ngoại giao với một nước, quyền công nhận hay không công nhận các quốc gia mới hay chính quyền mới. Tổng thống còn là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, đứng đầu bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia bao gồm Hội đồng an ninh quốc gia, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Cục Tình báo trung ương.

    

     Thể chế chính trị của mỗi quốc gia có đặc điểm riêng. Ở Mỹ, quyền lực chính trị chủ yếu tập trung trong tay tổng thống. Nhiều hoạt động của hệ thống chính trị và đời sống chính trị Mỹ đều có sự liên quan tác động của người nắm giữ cương vị lãnh đạo này. Mọi mối quan hệ với siêu cường này cần phải ưu tiên hiểu các quy định pháp lý về vai trò và quyền hạn của tổng thống Mỹ để có những bước đi phù hợp.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Đào Huy Ngọc (1994), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đỗ Lộc Diệp (1999), Hoa Kỳ – Tiến trình văn hóa chính trị, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Học viện Quan hệ quốc tế (1993), Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Hà Nội.

4. Howard Cincotta (2000), Khái quát về lịch sử nước Mỹ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

Ths Đỗ Thanh Nhàn - Khoa Nhà nước - Pháp luật

các tin khác