Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Tỉnh An Giang

Một số kết quả đổi mới về tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

08:14 06/11/2020

Tóm tắt: Đổi mới tổ chức và hoạt động UBND cấp xã là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới chính quyền địa phương ở cơ sở. Ở tỉnh An Giang việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã đã đạt nhiều kết quả rất cơ bản. Tuy nhiên, qua thực tiễn đổi mới đã đặt ra một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu về tính đồng bộ giữa thể chế của Đảng và Nhà nước trong các quy định về người đứng đầu chính quyền địa phương cấp xã.

Từ khóa: Ủy ban nhân dân cấp xã; bí thư, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, tỉnh An Giang

1. Chủ trương và thực tiễn đổi mới Ủy ban nhân dân cấp xã

Chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã nhằm nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn được BCH-TW Khóa IX đề ra tại Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18/3/2002. Sau hơn 10 năm thực hiện chủ trương này, các địa phương trong cả nước cũng có nhiều thành tựu nhất định và cũng gặp không ít khó khăn. Thể hiện quyết tâm chính trị và quan điểm nhất quán trong việc đối mới hệ thống chính trị, hội nghị BCH-TW7 Khóa XI đã ban hành Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013, một số vấn đề về tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Trong đó đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã là vô cùng quan trọng, cấp thiết. Chủ trương này đang được cả nước tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động UBND cấp xã ở tỉnh An Giang

An Giang là một tỉnh nông nghiệp, có diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm hơn 80% (tương đương 297.000 ha), nền nông nghiệp đang từng bước cơ giới hóa, hiện đại hóa, nhiều chính sách phát triển kinh tế đã được lãnh đạo các cấp, các ngành chỉ đạo, triển khai thực hiện mang lại một số kết quả bước đầu trong việc phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; xoá đói, giảm nghèo. Kinh tế chủ yếu của An Giang là phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Trong đó du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Về Văn hóa, tỉnh An Giang có nét văn hóa đặc sắc của 4 dân tộc (Kinh, Hoa, Chăm và Khơme) sinh sống tại địa phương. Bên cạnh đó, với lợi thế về nhiều di tích lịch sử cũng là cơ hội, thế mạnh để An Giang phát triển dịch vụ - du lịch còn nhiều tiềm năng.

An Giang là một tỉnh có địa hình đa dạng: có đồng bằng, có sông, núi, có đường biên giới, có cửa khẩu quốc gia, cửa khẩu quốc tế, có vùng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đặc điểm này, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND xã còn liên quan đến 2 tiêu chí cơ bản là dân số và diện tích, phân loại đơn vị hành chính và xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tính đặc thù của UBND cấp xã ở tỉnh An Giang là có 22 xã miền núi, 06 xã vùng dân tộc và 18 xã vùng biên giới.

Bảng tổng hợp tính đặc thù của tỉnh An Giang

Huyện, thị, Tp

Xã vùng dân tộc

Xã vùng biên giới

Huyện và

xã miền núi

 

 

 

 

 

Huyện An Phú

1. Xã Đa Phước

1. Xã Phú Hữu

Huyện Tịnh Biên

2. Xã Khánh Bình

2. Xã Khánh Bình

TT Nhà Bàng

3. Xã Quốc Thái

3. Xã Quốc Thái

TT Chi Lăng

4. Xã Nhơn Hội

4. Xã Nhơn Hội

TT Tịnh Biên

5. Xã Vĩnh Tường

5. Xã Vĩnh Hội Đông

Xã Núi Voi

 

6. Xã Khánh An

Xã Nhơn Hưng

 

7. Xã Phú Hội

Xã An Phú

 

8. Thị trấn Long Bình

Xã Thới Sơn

 

Huyện Tri Tôn

1. Xã lương An Trà

1. Xã Lạc Quới

Xã Văn Giáo

 

2. Xã Vĩnh Gia

Xã An Cư

 

Huyện Tịnh Biên

 

1. Xã Nhơn Hưng,

Xã An Nông

 

2. Xã An Phú

Xã Vĩnh Trung

 

3. Thị trấn Tịnh Biên

Xã Tân Lợi

 

4. Xã An Nông

Xã An Hảo

Tphố Châu Đốc

 

1.Phường Vĩnh Ngươn

Huyện Tri Tôn


Thị xã Tân Châu

 

1. Xã Vĩnh Xương

TT Tri Tôn

 

2. Xã Phú Lộc

TT Ba Chúc

 

 

 

Xã Lê Trì

 

 

 

Xã Châu Lăng

 

 

 

Xã Lương Phi

 

 

 

Xã Núi Tô

 

 

 

Xã An Tức

 

 

 

Xã Cô Tô

 

 

 

Xã Ô Lâm

Tổng cộng

6 xã vùng dân tộc

18 xã vùng biên giới

22 xã miền núi

 

Tỉnh An Giang là đơn vị hành chính loại II, có 2 thành phố, 01 thị xã, 8 huyện với 156 đơn vị hành chính cấp xã. Trong đó, có 119 xã, 21 phường và 16 thị trấn.

Chính quyền địa phương cấp xã gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân đã và đang được đổi mới về tổ chức và hoạt động theo hướng tinh gọn, nhất thể hóa chức danh lãnh đạo Đảng và Chính quyền nhà nước ở xã, hợp nhất văn phòng Đảng ủy và văn phòng HĐND - UBND xã, sắp xếp tinh gọn đội ngũ cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở xã.

Đổi mới về cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã

An Giang có 156 xã, phường, thị trấn. Trong đó có 127 đơn vị hành chính loại I và 29 đơn vị hành chính loại II.

- Giai đoạn 2010 – 2015, cơ cấu tổ chức UBND cấp xã ở tỉnh An Giang thực hiện theo quy định tại Nghị định số 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên uỷ ban nhân dân các cấp. Theo đó, số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên UBND cấp xã được quy định theo dân số của xã: “Uỷ ban nhân dân xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 người trở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên. Thành viên Uỷ ban nhân dân được phân công phụ trách các lĩnh vực công việc như sau: Chủ tịch UBND xã phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội xã.

01 Phó Chủ tịch phụ trách khối kinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường.

01 Phó Chủ tịch phụ trách khối văn hóa - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác.

01 ủy viên phụ trách công an. 01 ủy viên phụ trách quân sự.

Uỷ ban nhân dân xã không đạt dân số nêu trên, cơ cấu tổ chức có 3 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 1 ủy viên. Nhiệm vụ cụ thể của các thành viên do chủ tịch UBND xã căn cứ vào tình hình thực tế ở xã để phân công cho phù hợp. Trong nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân xã có thể ấn định thêm số lượng thành viên Uỷ ban nhân dân cấp mình nhưng tổng số không vượt quá 5 thành viên và phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Uỷ ban nhân dân phường, thị trấn có 5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên.

- Giai đoạn 2016 – 2020 cơ cấu tổ chức UBND cấp xã thuộc tỉnh An Giang thực hiện theo Nghị định số 08/2016/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định số lượng phó chủ tịch ủy ban nhân dân và quy trình, thủ tục bầu, từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, điều động, cách chức thành viên ủy ban nhân dân. Số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân được xác định theo phân loại đơn vị hành chính quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 và Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25 tháng 05 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Một nội dung đổi mới quan trọng trong cơ cấu tổ chức UBND cấp xã ở tỉnh An Giang là có 148/156 UBND cấp xã đã thực hiện theo mô hình “Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND xã”.

Bảng tổng hợp 148/156 UBND cấp xã thực hiện mô hình “Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND xã” ở tỉnh An Giang tính đến tháng 8/2020

TT

Đơn vị

Tổng số đơn vị hành chính

Đơn vị thực hiện

Số lượng

Tỷ lệ

1

Long Xuyên

13

13

100.00%

2

Châu Đốc

7

7

100.00%

3

Tân Châu

14

14

100.00%

4

Tịnh Biên

14

13

92,85%

5

Tri Tôn

15

14

93,33%

6

Chợ Mới

18

18

100.00%

7

Thoại Sơn

17

14

82,35%

8

Châu Thành

13

13

100.00%

9

Châu Phú

13

13

100.00%

10

Phú Tân

18

18

100.00%

11

An Phú

14

11

78.57%

 

TỔNG CỘNG

156

148

94,87%

 

Đổi mới hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang

Giai đoạn 2010 – 2015, hoạt động của UBND cấp xã thực hiện theo Hiến pháp 1992, sửa đổi 2001 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003.

Hoạt động của UBND xã được thể hiện thông qua hoạt động của tập thể UBND (phiên họp UBND); hoạt động của chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy viên và đội ngũ công chức xã đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương, cơ sở.

- Phiên họp của UBND xã là hình thức hoạt động quan trọng nhất của UBND. Thông qua phiên họp, UBND xã thực hiện hầu hết các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của mình. UBND họp thường lệ mỗi tháng một lần do chủ tịch UBND triệu tập và chủ tọa. Trong trường hợp cần thiết, chủ tịch UBND có thể triệu tập phiên họp bất thường theo yêu cầu của chủ tịch UBND hoặc theo đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số thành viên của UBND.

- Hoạt động của chủ tịch UBND xã: Với cương vị là người lãnh đạo và điều hành công tác của UBND xã, chủ tịch UBND có quyền triệu tập và chủ tọa các phiên họp của UBND, kể cả các phiên họp thường lệ và bất thường. Tại các phiên họp, chủ tịch UBND xã chủ trì cuộc họp, định hướng việc thảo luận và biểu quyết những vấn đề nằm trong chương trình phiên họp. Căn cứ vào những quyết định đã được tập thể UBND thông qua, chủ tịch UBND chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, kiểm tra việc thực hiện những quyết định đó.

Với xu hướng kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng trong quản lý nhà nước, Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND 2003 đã phân định rõ hơn giữa chế độ trách nhiệm tập thể của UBND với cá nhân chủ tịch UBND. Theo đó, Chủ tịch UBND xã căn cứ vào các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và tình hình thực tiễn của địa phương để xây dựng Chương trình công tác năm, quý, tháng của Ủy ban nhân dân xã. Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch công tác; phân công nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra các thành viên Ủy ban nhân dân xã và cán bộ, công chức xã, Trưởng các khóm, ấp trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều nội dung công việc, những vấn đề đột xuất, phức tạp trên địa bàn; những vấn đề còn ý kiến khác nhau hoặc vượt quá thẩm quyền của Phó Chủ tịch và Ủy viên UBND xã. Chủ tịch UBND xã ký ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền UBND và thẩm quyền của Chủ tịch theo quy định của pháp luật. Đồng thời báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã, hoạt động của Ủy ban nhân dân với Đảng ủy, Hội đồng nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện.

Ngoài ra, Chủ tịch UBND xã còn tổ chức việc tiếp dân, xem xét giải quyết các khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Ủy ban nhân dân xã còn chịu trách nhiệm phối hợp với thường trực Hội đồng nhân dân chuẩn bị nội dung các kỳ họp Hội đồng nhân dân, xây dựng đề án trình Hội đồng nhân dân xã xem xét quyết định. Ủy ban nhân dân xã phải thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của xã cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địa phương.

Giai đoạn 2016 -2020, hoạt động của UBND cấp xã ở tỉnh An Giang thực hiện theo Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi năm 2019 và các quy định của Đảng đối với Bí thư Đảng ủy xã.

Các hoạt động của UBND xã trong giai đoạn này khi An Giang có trên 94% (148/156) xã phường, thị trấn thực hiện mô hình “Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND xã” (sau đây viết tắt là bí thư, chủ tịch UBND xã). Người đứng đầu UBND xã không chỉ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 mà còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu cấp ủy ở xã.

Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cùng cấp là một cá nhân đồng thời đảm nhận chức vụ Bí thư cấp ủy và Chủ tịch UBND cùng cấp, được thực hiện ở những nơi có đủ điều kiện, nhằm tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, nâng cao hiệu quả thực thi quyền lực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân trên địa bàn.

- Phiên họp Ủy ban nhân dân xã là hoạt động cơ bản. Ủy ban nhân dân xã họp thường kỳ mỗi tháng một lần. Các mặt hoạt động khác của UBND cấp xã có thay đổi rất cơ bản theo quy định về chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị nhằm thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn của UBND xã tại Điều 35 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND phường tại Điều 63; các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND thị trấn tại Điều 71.

- Hoạt động của Bí thư, Chủ tịch UBND xã thể hiện qua trách nhiệm của người đứng đầu Đảng bộ, đồng thời là người trực tiếp điều hành bộ máy nhà nước tại địa phương thực hiện nhiệm vụ do Đảng bộ xã giao; chịu trách nhiệm trước Đảng bộ xã và huyện về sự lãnh đạo của Đảng bộ trên mọi lĩnh vực và toàn bộ hoạt động của Ủy ban nhân dân xã theo quy định của pháp luật. Bí thư xã thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ xã lãnh đạo, điều hành thực hiện công việc của Ban Chấp hành. Chủ trì và kết luận các Hội nghị của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Thường trực Đảng ủy. Bí thư, chủ tịch UBND xã trực tiếp chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, công tác cải cách hành chính, công tác thi đua - khen thưởng, công tác dân vận của chính quyền và đối thoại với nhân dân; chỉ đạo thực hiện chế độ báo cáo về kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh trên địa bàn và các công việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của Ủy ban nhân dân xã.

Thực hiện Quy chế làm việc UBND xã, mỗi tuần Bí thư, Chủ tịch UBND họp thành viên UBND xã để nắm tình hình và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tuần tiếp theo. Khi có tình huống hay vấn đề phát sinh cần giải quyết ngay, Bí thư, Chủ tịch UBND xã chỉ đạo "hội ý" nhanh để nắm thêm thông tin, trao đổi tình hình với cấp phó, với thành viên UBND xã và đưa ra quyết định chỉ đạo, phân công trách nhiệm xử lý cụ thể. Theo quy định hiện nay, UBND cấp xã loại I được cơ cấu 2 phó chủ tịch thì 01 Phó chủ tịch phụ trách lĩnh vực kinh tế kiêm bộ phận một cửa; 01 Phó chủ tịch phụ trách lĩnh vực văn hóa, xã hội và khối đoàn thể. Đối với xã thuộc đơn vị hành chính loại II có 01 phó chủ tịch thì nhiệm vụ cụ thể sẽ do Bí thư, Chủ tịch UBND xã cùng gánh vác chung theo sự phân công của Bí thư, Chủ tịch UBND xã. Bí thư, Chủ tịch UBND xã là người đướng đầu chính quyền địa phương cấp xã, có toàn quyền quyết định về công tác đảng, công tác chính quyền ở xã.

Thực hiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ xã, hằng tháng bí thư, chủ tịch UBND xã tổ chức họp Ban Thường vụ một lần. Đây là cuộc họp quan trọng nhất ở cơ sở. Cuộc họp này sẽ đưa ra những quyết sách quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và làm cơ sở cho hoạt động điều hành của UBND xã. Bí thư, Chủ tịch UBND xã vừa là người đề ra chủ trương, nhiệm vụ công tác và cũng là người chịu trách nhiệm thi hành các chủ trương, nhiệm vụ đó. Bí thư, chủ tịch UBND xã là người trực tiếp tiếp thu các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp trên; đồng thời, cũng là người trực tiếp chỉ đạo việc triển khai và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đó ở xã. Bí thư, chủ tịch xã còn chỉ đạo và kiểm tra toàn bộ hoạt động của các chi bộ trực thuộc về công tác xây dựng Đảng, nhất là công tác cán bộ; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương. Bí thư, Chủ tịch UBND xã trực tiếp giữ chức vụ Bí thư chi bộ Quân sự, phụ trách chi bộ Công an xã; nắm và chỉ đạo lĩnh vực quốc phòng, an ninh, chỉ đạo công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; trực tiếp chỉ đạo về chủ trương, giải pháp giải quyết những tình huống chính trị - xã hội phát sinh trên địa bàn. Thay mặt Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy ký các Nghị quyết, Chỉ thị, các văn bản của Đảng ủy và Ban Thường vụ Đảng ủy. Chỉ đạo chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy và Đại hội đại biểu Đảng bộ xã.

2. Một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nghiên cứu về tính đồng bộ giữa thể chế của Đảng và Nhà nước trong các quy định về người đứng đầu chính quyền địa phương cấp xã.

Đổi mới tổ chức và hoạt động UBND cấp xã ở tỉnh An Giang được thể hiện rõ nét qua đổi mới cơ cấu tổ chức, thực hiện mô hình bí thư, chủ tịch UBND cấp xã. Các đơn vị hành chính cấp xã trong tỉnh đã có sự sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiệu quả, xây dựng đề án tinh giản đội ngũ cán bộ công chức và người hoạt động không chuyên trách, từng bước ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động quản lý, nhất là ở bộ phận một cửa, mang tính chuyên nghiệp ngày càng cao. Hoạt động của UBND xã đạt được thành tựu rõ rệt qua việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những điều kiện của địa phương trong việc quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và dân cư trên địa bàn theo quy định của pháp luật, từ đó đề ra các chủ trương, chính sách, biện pháp triển khai phù hợp trên từng lĩnh vực kinh tế, xã hội. Phương thức hoạt động, lề lối làm việc UBND xã có nhiều đổi mới. Quan hệ phối kết hợp quản lý nhà nước theo ngành, lãnh thổ ngày càng chặt chẽ. Công tác chỉ đạo, điều hành thống nhất, có trọng tâm và bao quát toàn diện hơn trên các mặt hoạt động kinh tế, xã hội của từng địa phương. Tổ chức và hoạt động UBND cấp xã đã được quy định có tính khoa học chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, qua thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động UBND cấp xã ở tỉnh An Giang qua 2 nhiệm kỳ 2010 -–2015 và nhiệm kỳ 2016 – 2020 đã đặt ra một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cùng cấp.

Về mặt lý luận, tuy có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng cũng chỉ là sự lắp ghép giữa 2 quy định (quy định của Đảng về bí thư và quy định của pháp luật về chủ tịch UBND). Theo nghiên cứu của chúng tôi, hiện nay vẫn chưa có văn bản nào của Đảng, Nhà nước làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cấp xã. Do vậy, một yêu cầu cấp bách trong tình hình mới hiện nay là xây dựng, hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã. Để có thể thực hiện cơ bản mô hình này trong cả nước cần có sự phù hợp giữa các quy định của Đảng và pháp luật nhà nước.

Hiến pháp 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cần được tiếp tục bổ sung, sửa đổi theo hướng làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bí thư, chủ tịch UBND xã cho phù hợp với thực tế có nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã và đang thực hiện mô hình này. Trong đó cần quy định rõ bí thư, chủ tịch UBND xã là người đứng đầu cơ quan hành chính cấp xã, có toàn quyền quyết định các vấn đề về công tác đảng, công tác nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã.

Chính phủ cần xem xét sửa đổi quy định chế độ phụ cấp kiêm nhiệm của bí thư đồng thời là chủ tịch UBND xã theo hướng bí thư đồng thời là chủ tịch UBND xã được hưởng 50% mức lương (bậc 1), cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo (nếu có) của chức danh kiêm nhiệm khi số lượng cán bộ, công chức cấp xã không vượt quy định tối đa 23 người đối với xã loại 1, không quá 21 người đối với xã loại 2 (quy định hiện hành tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2019, bí thư đồng thời là chủ tịch UBND xã được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm 50% phải có số lượng cán bộ, công chức cấp xã nhỏ hơn quy định tối đa).

Việc tổ chức cho nhân dân trực tiếp bầu người đứng đầu cấp xã, Văn kiện Đại hội Đảng Khóa XII đã nêu chủ trương: “Thực hiện thí điểm nhân dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện”. Tuy nhiên, bí thư cấp ủy là đảng viên do tổ chức Đảng, Đại hội đảng viên bầu. Do vậy, việc tổ chức cho nhân dân (cư tri) trực tiếp bầu bí thư, chủ tịch xã cần có Đề án với lộ trình phù hợp, đủ thời gian bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng làm cơ sở, định hướng cho việc sửa đổi nội dung các văn bản luật tương ứng như Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật bầu cử Đại biểu HĐND các cấp. Trong đó quy định rõ: Chủ tịch UBND xã do nhân dân (cử tri) trực tiếp bầu theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông, bỏ phiếu kín. Quy định rõ các nội dung, nguyên tắc mà bí thư, chủ tịch xã được quyền vận động tranh cử và không được vận động tranh cử. Thời gian cần thiết để thực hiện các nội dung này cần sớm xây dựng Đề án kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc Khóa XIII.

Thứ hai, về yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực.

Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch UBND cùng cấp là người có đầy đủ quyền lực ở địa phương, người này nắm cả quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước. Do vậy, cơ chế kiểm soát quyền lực cần được nghiên cứu từ góc độ cơ sở nền tảng, kết hợp những giải pháp cụ thể sát hợp với từng địa phương, vùng miền, phong tục tập quán, dân tộc, tôn giáo, vị trí địa chính trị của từng nơi khác nhau. Mô hình này vẫn đang cần tiếp tục bổ sung hoàn thiện. Để kiểm soát quyền lực của bí thư, chủ tịch UBND xã chúng ta cần quan tâm các vấn đề sau:

Kiểm soát đầu vào của người sẽ được giao nắm giữ quyền lực, đó là làm thật tốt công tác cán bộ (Quy hoạch, đào tạo, phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực công tác thực tiễn). Xây dựng hệ thống thể chế về công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ và công chức rõ ràng, tách bạch, không chồng chéo, có tính chuyên nghiệp cao, hạn chế đến mức thấp nhất điều động qua lại lẫn nhau giữa cán bộ và công chức.

Hoàn thiện Quy chế hoạt động của cấp ủy theo mô hình mới (bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp) thống nhất cơ bản theo hướng dẫn của Trung ương, có vận dụng theo thực tế của địa phương. Từng bước hoàn thiện pháp luật về chính quyền địa phương (Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính quyền địa phương theo hướng ghi nhận mô hình mới), làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND cùng cấp.

Kiểm soát thực thi quyền lực, sử dụng đồng bộ, hiệu quả các công cụ kiểm soát thực thi quyền lực: công cụ của Đảng, công cụ của Nhà nước, công cụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Công cụ của Đảng: Cương lĩnh, nghị quyết, điều lệ, quy chế, quy định. Công cụ của Nhà nước: Pháp quyền XHCN, cơ chế, chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân giữa vai trò quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực trong việc tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng chính quyền vững mạnh. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân theo hướng chủ động xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch kiểm tra, giám sát, phản biện hoạt động của chính quyền địa phương nói chung và hoạt động của bí thư cấp ủy nói riêng. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng trông chờ, hoạt động còn có tính rập khuông, máy móc, mạnh dạng chỉ ra những mặt còn hạn chế của Đảng, chính quyền địa phương.

Thứ ba, xây dựng cơ chế xử lý vi phạm quyền lực.

Thống nhất, tập trung quyền lực quản lý nhà nước và quyền lực chính trị của Đảng là yêu cầu cần thiết mang bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Tuy vậy, việc phân định rõ pham vi quyền lực chính trị, cơ chế kiểm soát giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị cũng đặc biệt quan trọng ở nước ta hiện nay. Đây là một vấn đề quan trọng, cần được thực hiện nghiêm từ Trung ương đến địa phương. Việc thực hiện xử lý đối với người nắm giữ quyền lực (Bí thư cấp ủy) sẽ có liên quan nhiều người, nhiều vấn đề,…Trước tiên cần hoàn thiện chế định vi Hiến đã được nêu trong Văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng Khóa XII, các quy định pháp luật về phòng chống tham nhũng, quy định về người lãnh đạo (Bí thư cấp ủy) không phải là người địa phương.

Tóm lại:

Đổi mới tổ chức và hoạt động UBND cấp xã là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới chính quyền địa phương ở cơ sở. Ở tỉnh An Giang việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp xã đã đạt nhiều kết quả rất cơ bản.

UBND cấp xã đã thể hiện tốt vai trò quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương; hiệu quả hoạt động được nâng cao trong việc thực hiện nghị quyết của HĐND xã và các chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên gắn với các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đều được tổ chức thực hiện tốt, nhất là trong công tác cải cách thủ tục hành chính và vận động nhân dân trên địa bàn xã trong toàn tỉnh, xây dựng được niềm tin của nhân dân vào chính quyền nhà nước ở cơ sở thông qua vai trò lãnh đạo của bí thư, chủ tịch UBND xã./.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương (Khóa IX) - Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18 tháng 03 năm 2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

2. Ban Chấp hành Trung ương (Khóa X) - Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02/02/2008 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

3. Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) - Kết luận số 64-KL/TW ngày 28 tháng 05 năm 2013 một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở.

4. Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XII) - Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 Khóa XII, Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

5. Ban Tổ chức Trung ương - Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện 5 năm thí điểm mô hình “bí thư kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã” ở nước ta.

6. Tỉnh Ủy An Giang - Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 24/6/2002 về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

7. Tỉnh Ủy An Giang - Chương trình hành động số 19-Ctr/TU ngày 19/4/2018 thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương.

8. Ths. Phan Thị Tuyết Minh - Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Giải pháp đẩy nhanh thực hiện mô hình Bí thư đồng thời là Chủ tịch UBND cấp xã ở tỉnh An Giang" năm 2019.

9. Ths. Bùi Xuân Phái: Quyền lực và sự tha hóa của quyền lực.

ThS. Vũ Quang Hưng - giảng viên Khoa Nhà nước và Pháp luật

các tin khác